- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham giao giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Hoàng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày 11 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Lưu Ngọc Khoa
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Nguyễn Thảo Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Ứng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Vũ Văn H, sinh năm 1979 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Vũ Văn L, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Trần Thị G, sinh năm 1959. Có vợ là Phạm Thị S, sinh năm 1985 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Anh Đặng Tiến T (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đặng Văn X, sinh năm 1978 và bà Lý Thị T1, sinh năm 1982 (Là bố mẹ đẻ của anh Đặng Tiến T);
Địa chỉ: Thôn 3, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị S, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng:
- Anh Lương Gia C, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Triệu Văn T2, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Bon M, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 01/01/2023, Vũ Văn H cùng anh Triệu Văn T2, anh Lương Gia C và anh Đặng Tiến T tổ chức uống rượu tại nhà Hoàng thuộc thôn Đắk R’Tăng, xã Quảng Tân, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày khi đã uống hết khoảng 1,5 lít rượu thì nghỉ. Sau đó anh T2, anh T và anh C cùng lên 01 xe mô tô để đi về nhà anh T2. Trên đường đi cả ba bị té xe nên anh T2 gọi điện thoại cho H nhờ ra chở anh T đi rửa vết thương. Sau khi nghe điện thoại, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48K1-076.64 chay ra chỗ anh T, anh T2, anh C đang bị tai nạn. Khi đi cách nhà H khoảng 01 km thì gặp nhóm của anh T2 đang đứng ở đường, Hoàng thấy anh C và anh T bị trầy xước da ở vùng mặt đang chảy máu đang ngồi ở ven đường, còn anh T2 thì bị trầy xước ở tay. Sau đó, anh T2 điều khiển xe mô tô chở anh C, còn H điều khiển xe mô tô chở anh T cùng đi về hướng trạm y tế xã Đắk R’Tíh. Khi đi được khoảng 1,5 km thì gặp công trình đang thi công mương thoát nước ngang qua đường. Do không chú ý quan sát và đã uống rượu nên H không thấy biển cảnh báo đã điều khiển xe mô tô vào khu vực công trường đang thi công và tông vào mép miệng cống làm ngã xe. Khi H ngồi dậy thì thấy anh T đang nằm ngửa trên mặt đường, bị chảy nhiều máu và đã bất tỉnh. Sau đó H gọi xe cứu thương đến nhưng anh T đã chết.
Hiện trường vụ án thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường liên xã thuộc Bon Bu Dơng, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đang trong giai đoạn thi công cống thoát nước mặt đường có kết cấu bằng bê tông nhưng có lề rộng 3,52m; đường có chiều hướng cong cua từ phải qua trái xuống dốc theo hướng từ xã Quảng Tân đi xã Đắk R’Tíh. Trung tâm hiện trường đang xây dựng 01 cống thoát nước cắt ngang qua tuyến đường rộng 1,3m; sâu 0,8m tiếp giáp với mép cống về hướng xã Quảng Tân có 01 xe trộn bê tông dựng dọc theo phần đường bên phải đầu xe quay về hướng xã Quảng Tân. Trục trước bên phải cách mép đường trái 1,8m; trúc sau bên phải cách vuông góc với bờ mép cống 1,55m và phần bên trái đường tồn tại một ụ đất cao đến thấp dần từ lề đường ra đến tim đường. Tại vị trí lối vào đường tránh hướng đi xã Quảng Tân được đặt một biển báo hiệu hướng đi phát theo R301c (các xe được phép rẽ trái) đặt ở phần đường trái ngang sau vị trí giao nhau giữa đường liên xã và đường tránh cách bờ mép cống 15,82m; ngay sau biển báo hiệu có hệ thống rào chắn đặt cắt ngang qua mặt đường, dây rào chắn bị đứt tại phần đường bên phải. Theo hướng từ xã Quảng Tân đi xã Đắk R’Tíh, bên phải đường là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 48K1-076.64 nằm ngả nghiêng tư thế thân xe bên trái tiếp giáp với mặt đường, đầu xe quay về hướng Đông Nam, đuôi xe quay về hướng Bắc Nam.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 30/KLGĐTT-TTPY ngày 20/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông, kết luận nguyên nhân tử vong của anh Đặng Tiến T là do chấn thương sọ não và chết ngay tại thời điểm xảy ra tai nạn.
Cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 18/5/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 48K1-076.64 cho chị Phạm Thị S là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Văn H đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Đặng Văn X và bà Lý Thị T1 số tiền 72.486.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo rất hối hận và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có thể sớm được đoàn tụ với gia đình vì vợ bị cáo bệnh và các con của bị cáo còn rất nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Vào khoảng 16 giờ ngày 01/01/2023, Vũ Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48K1-076.64 chở anh Đặng Tiến T lưu thông trên tuyến đường liên xã, khi đi đến đoạn đường thuộc bon Bu Dơng, xã Đắk R’Tíh thì gây tai nạn làm anh Đặng Tiến T chết ngay tại hiện trường. Khi điều khiển xe mô tô gây tai nạn làm anh Đặng Tiến T chết, Vũ Văn H có sử dụng rượu, bia và có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (nồng độ cồn trong máu là 0,752mg/L). Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Vũ Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định….”
Xét tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã gây tai nạn hậu quả làm anh Đặng Tiến Thủ chết nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nãi xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo có ông nội là ông Vũ Văn L là thương binh hạng ¾, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng, Huy chương hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Về hình phạt: Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra. Bị cáo sau khi uống rượu với bị hại xong và bị hại đi về bị tai nạn, nhận được tin bị hại bị tai nạn dù đã uống nhiều rượu nhưng bị cáo vẫn cố gắng chạy xe ra thấy bị hại bị thương ngồi ven đường nên đã điều khiển xe đưa bị hại đến trạm y tế để xử lý vết thương nhưng trên đường đi do thiếu quan sát nên đã gây tai nạn làm cho bị hại chết tại chỗ. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, được đại diện gia đình bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo, đang phải nuôi 03 con còn nhỏ, vợ thường xuyên đau ốm. Bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà xử hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương, gia đình quản lý, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt.
Về việc bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bị hại số tiền 72.486.000 đồng, đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Về việc xử lý vật chứng vụ án: Đối 01 xe mô tô biển số 48K1-076.64 là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị S nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với Công ty Th làm công trình xây cống thoát nước qua đường. Tuy nhiên, Công ty đã làm đường tránh vòng qua vị trí xây dựng cống thoát nước, đặt biển báo và hệ thống rào chắn đặt cắt ngang qua mặt đường để ngăn không cho các phương tiện tham gia giao thông đi vào công trình theo đúng quy định nên không đề cập xử lý.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Vũ Văn H được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo thuộc hộ nghèo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Hoàng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/9/2023.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Tân, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển số 48K1-076.64 cho chị Phạm Thị S là chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vũ Văn H được miễn nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV06, PC10 - CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Tuy Đức; - CA huyện Tuy Đức; - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức; - Bị cáo; - Đại diện theo pháp luật của bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Nông Văn Nhu |