- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày 26/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Minh Hải
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Trọng, bà Phạm Thị Thuyến.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33 /2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Thị Minh H, sinh năm 1995; tại: N; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quốc V, và bà Vũ Thị V1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 04 ngày 12/4/2023của Công an huyện N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: ông Nguyễn Văn K (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1973(Có mặt)
Trú tại: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Thị Minh H có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Khoảng 05 giờ 35 phút ngày 15/03/2023 Phạm Thị Minh H điều khiển xe mô tô biển số 34E1 - 328.77 trên đường B hướng cầu H đi G với tốc độ khoảng 40 Km/h ở phần đường bên phải, cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 01 m. Khi H điều khiển xe mô tô đi đến Km 09 + 372 là đoạn đường thẳng, rộng 1100 cm có vạch sơn màu vàng đứt đoạn, chia đường thành hai chiều xe chạy thuộc thôn - - xã H - huyện N - tỉnh Hải Dương, do quáng đèn của xe ô tô đi ngược chiều nên xe mô tô do H điều khiển đã va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Văn K điều khiển đi phía trước cùng chiều. Sau va chạm xe đạp và ông K bị đổ, ngã xuống đường bên phải tạo thành các vết theo hướng đi của khám nghiệm, cụ thể: Vị trí 1: là vết trà sát mặt đường tạo bột đá màu trắng dài 200 cm, rộng 01 cm, sâu không đáng kể; đầu vết cách mép đường bên phải 110 cm và cách cột Km 09 + 400 là 2800 cm, cuối vết cách mép đường bên phải 30cm. Vị trí 4: là vị trí ông K nằm trùng với vị trí chiếc đèn pin loại có dây đeo kích thước 05 x 06 cm, cách mép đường bên phải là 20 cm và cách đầu vết (3) là 180cm. Còn Phạm Thị Minh H và xe mô tô ngã, đổ xuống đường bên phải tạo thành vết số 03 theo hướng đi của khám nghiệm, là vết trà sát mặt đường tạo bột đá màu trắng dài 510cm, rộng 01cm sâu không đáng kể, đầu vết cách mép đường bên phải 180cm và cách cuối vết 01 là 30 cm, cuối vết cách mép đường bên phải 190cm, trùng với vị trí H ngã. Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe đạp mi ni có các dấu vết: Dấu vết 1: Đầu tay nắm tay lái bên phải có vết trà sát làm mòn cao su để lộ kim loại, dính chất bột đá màu trắng, hướng trước sau kích thước 2,5 x 02 cm, vết còn mới. Dấu vết 2: Tại vị trí mặt ngoài ốc nối tay phanh phải với tay lái có vết trà sát kim loại không rõ hướng, trên dính chất bột đá màu trắng, kích thước 0,5 x 0,8 cm, vết còn mới. Dấu vết 3: Giỏ xe bị móp méo đẩy từ trước về sau 03 cm, từ trái qua phải 03 cm so với vị trí thường. Dấu vết 4: Góc bên trái yên xe có vết trà sát cao su tạo sơ hướng phải trái, trên dưới kích thước 04 x 02 cm, vết còn mới. Dấu vết 5: Mặt ngoài thanh kim loại bên trái đỡ gác ba ga có vết trà sát kim loại làm mất sơn, không rõ hướng bề mặt dính chất bột màu trắng kích thước 0,6 x 01 cm, vết còn mới. Dấu vết 6: Khóa chân chống sau bị đẩy gập hình chữ V từ dưới lên trên tạo góc 45 độ. Tại biên bản khám phương tiện xe mô tô biển số 34E1-328.77 có các dấu vết: Dấu vết 1: ốp đầu xe bên phải vỡ nhựa phía trên dài 05 cm và đường vỡ nhựa phía dưới dài 11 cm, tâm đường vỡ cách chân gương phải 07 cm. Dấu vết 2: bề mặt cánh yếm phải nhiều vết trà sát làm mất sơn, hướng trước sau diện 41 x 24 cm, phía dưới cánh yếm phải bị vỡ mất nhựa diện 05 x 12 cm. Dấu vết 3: Bên phải phần kim loại ốp bảo vệ chắn bùn bánh trước có vết trà sát kim loại không rõ hướng diện 05 x 02 cm. Dấu vết 4: ốp thân xe bên phải có vết trà sát làm mất sơn hướng trên dưới diện 20 x 02 cm, phía trước ốp nhựa bên phải có 02 đường vỡ dài 6,5 và 04 cm. Dấu vết 5: Mặt dưới để chân bên phải của người ngồi sau có vết trà sát kim loại không rõ hướng, bề mặt dính chất bột màu trắng diện 07 x 1,5 cm. Dấu vết 6: Ốp nhựa để chân bên phải người lái, phía dưới có vết trà sát làm mất sơn hướng trước sau diện 30 x 2,5 cm. Dấu vết 7: Mặt ngoài nhánh tay cầm người ngồi sau bên phải có vết trà sát kim loại, không rõ hướng diện 04 x 0,2 cm. Dấu vết 8: Mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả có vết trà sát kim loại, trên bề mặt có dính chất bột màu trắng, không rõ hướng diện 33 x 4,5 cm. Hậu quả: Ông Nguyễn Văn K bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện G sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H ngày 15/3/2023 đến 12h 25 phút cùng ngày ông Nguyễn Văn K tử vong tại gia đình.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 76/GĐPY ngày 27/3/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn K bị Chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ; dập não).
Về Vật chứng: Cơ quan CSĐT - Công an huyện N đã thu giữ: 01 xe mô tô biển số 34E1 - 328.77, nhãn hiệu Honda, 01 xe đạp; 01 đèn dây đeo và 01 kính mắt.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 29/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Phạm Thị Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã công bố, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại hay có ý kiến gì khác. Xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo H từ 12- 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24-30 tháng, tính từ ngày tuyên án.Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xử lý vật chứng: Không. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên,Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện, bản kết luận giám định pháp y, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 35 phút ngày 15/3/2023, tại K + 372 đ ường B thuộc địa phận thôn K - xã H - huyện N - tỉnh Hải Dương, Phạm Thị Minh H có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 34E1 - 328.77 đi hướng cầu H - G. Do tầm nhìn bị hạn chế và không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn nên xe mô tô do H điều khiển đã va chạm xe đạp do ông Nguyễn Văn K - sinh năm 1936 ở thôn Đ - xã H - huyện N - tỉnh Hải Dương điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả: ông Nguyễn Văn K chết do chấn thương sọ não.Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã không tuân thủ và chấp hành các quy đinh của luật giao thông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Trên cơ sở hành vi bị cáo đã thực hiện, đủ căn cứ xác định bị cáo Phạm Thị Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ trưởng Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Xâm phạm đến trật tự quản lý giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây hậu quả làm 01 người chết. Vì vậy cần cần có mức hình phạt tươn xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường về phần dân sự cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại làm đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo tuổi còn trẻ là phụ nữ chưa chồng, mặt khác do đường tối bị cáo bị quáng đèn xe một phần gây lên lỗi của bị cáo, vì vậy cần áp dụng điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 BLHS đối với bị cáo. Giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý cũng có tác dụng giáo dục bị cáo.
. Đại diện VKSND huyện Ninh Giang đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 34E1 - 328.77, nhãn hiệu Honda, ngày 12/4/2023 Cơ quan CSĐT - Công an huyện N đã trả lại bị can Phạm Thị Minh H là chủ sở hữu hợp pháp.Đối với 01 xe đạp; 01 đèn dây đeo và 01 kính mắt ngày 30/4/2023 Cơ quan CSĐT- Công an huyện N đã trả lại ông Nguyễn Văn D là người đại diện hợp pháp của người bị hại là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo Phạm Thị Minh H đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 40.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu Phạm Thị Minh H phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác, nên vấn đề dân sự đã được giải quyết xong.
. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1, Điều 260, điểm s,b khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Minh H 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H cho UBND xã T, quản lý giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo H. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Phạm Thị Minh H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. HỘI THẨM NHÂN DÂN
| TÒA Nguyễn Tất Trọng Phạm Thị Thuyến Noi nhận: - VKSND huyện Ninh Giang; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Ninh Giang; - Cơ quan THA Hình sự huyện Ninh Giang; - Chi cục THADS huyện Ninh Giang; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -Bộ phận HSNV công an huyện Ninh Giang. - Lưu Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN Vũ Minh H1 TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Minh Hải |