vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Trần Thanh Đ 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30-8-2023. Giao bị cáo Trần Thanh Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thanh Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày 30 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Châu.

2/ Ông Lý Thanh Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS, ngày 04 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thanh Đ, sinh ngày 09-01-2004, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Tên gọi khác: Không có. Nơi cư trú: Ấp Mới, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Dương Thị Kim L; Anh chị em ruột: 02 người, bị cáo nhỏ nhất. Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị khởi tố ngày 16-6-2023, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16-6-2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Đại diện hợp pháp bị hại Nguyễn Văn Đ1:

1/ Bà Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm 1955.

2/ Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981.

3/ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985.

4/ Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1986.

5/ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1990.

6/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993.

7/ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1996.

Cùng cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Các ông bà Nguễn Thị Bé H3, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thanh C, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn T1 cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Văn M (Theo văn bản ủy quyền ngày 22-4-2023). (Ông M có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H. (Có mặt)

Nơi cư trú: Ấp Mới, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng T2. (Có mặt)

Nơi cư trú: Ấp Mới, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 53 phút, ngày 17-4-2023, bị cáo Trần Thanh Đ điều khiển xe mô tô biển số 83P2-293.95 lưu thông theo hướng xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng đi xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi đến đoạn đường số B, lộ Nông thôn thuộc ấp M, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì va chạm với bộ hành là ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1952, cư trú: Ấp Mới, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn Đ1 tử vong trên đường đi cấp cứu, còn bị cáo Trần Thanh Đ bị thương nhẹ.

Tại bản kết luận giám định số: 96/KLGĐTT-KTHS, ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh S đối với: Nguyễn Văn Đ1 như sau:

* Các kết quả chính:

- Kết quả giám định:

+ Trên cơ thể có nhiều vết thương.

+ Bầm tụ máu dưới da đầu trên diện rộng ở vùng thái dương chẩm phải và thái dương-trán trái.

+ Bầm tụ máu hoàn toàn cơ thái dương bên phải.

+ Bầm tụ máu não ở thủy trán hai bên.

+ Tổ chức não phù

+ Bầm tụ máu ở bán cầu đại não phải

+ Trong nền sọ chứa nhiều máu loãng.

+ Bầm tụ máu quanh tiểu não.

+ Mặt cắt nhu mô não bị xuất huyết rãi rác nhiều chỗ

Kết luận: Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

- Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã thu giữ:

+ 01 (một) xe mô tô biển số 83P2-293.95, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Xanh bạc, số khung 0610FY017605, số máy G3D4E017610;

+ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số 940224006515, cấp ngày 02/8/2022 mang tên Trần Thanh Đ;

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 83P2-293.95 số 001745 cấp ngày 23/3/2020 do Trần Thanh Đ đứng tên.

Sau khi điều tra làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản đồ vật cho chủ sở hữu: 01 (một) xe mô tô biển số 83P2-293.95, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Xanh bạc, số khung 0610FY017605, số máy G3D4E017610. Các đồ vật tài liệu còn lại Cơ quan điều tra Công an huyện M đã chuyển giao Chi cục Thi hành án Dân sự tiếp tục quản lý để đảm bảo việc xét xử và thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS-MT, ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Trần Thanh Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Trần Thanh Đ:

+ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số 940224006515, cấp ngày 02-8-2022 mang tên Trần Thanh Đ;

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 83P2-293.95 số 001745 cấp ngày 23-3-2020 do Trần Thanh Đ đứng tên.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo gởi lời xin lỗi đến gia đình bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để có thể vừa cải tạo, vừa chăm sóc cha mẹ đang bị bệnh.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp bị hại trình bày: Về phần trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường xong nên không yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị bãi nại miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra là phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu, phù hợp với lời khai của đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Tại bản kết luận giám định số: 96/KLGĐTT-KTHS, ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh S đối với nạn nhân Nguyễn Văn Đ1 như sau: Trên cơ thể có nhiều vết thương; Bầm tụ máu dưới da đầu trên diện rộng ở vùng thái dương chẩm phải và thái dương-trán trái; Bầm tụ máu hoàn toàn cơ thái dương bên phải; Bầm tụ máu não ở thủy trán hai bên; Tổ chức não phù; Bầm tụ máu ở bán cầu đại não phải; Trong nền sọ chứa nhiều máu loãng; Bầm tụ máu quanh tiểu não; Mặt cắt nhu mô não bị xuất huyết rãi rác nhiều chỗ. Kết luận: Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện và biên bản làm việc với những người có liên quan đến vụ án, xác định: Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo Trần Thanh Đ điều khiển xe đi không đúng phần đường dẫn đến gây tai nạn, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, hậu quả làm ông Nguyễn Văn Đ1 tử vong. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng; đại diện hợp pháp bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L và kết quả xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M thì hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi cha mẹ đang bệnh. Tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước, bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý và có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo không thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Hội đồng xét xử nhận thấy việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, tạo điều kiện cho bị cáo vừa cải tạo vừa có thời gian chăm sóc cha mẹ đang bệnh. Vì vậy, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng như lời trình bày của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo Trần Thanh Đ:

+ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số 940224006515, cấp ngày 02-8-2022 mang tên Trần Thanh Đ;

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 83P2-293.95 số 001745 cấp ngày 23-3-2020 do Trần Thanh Đ đứng tên.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 299; Điều 326; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 2 Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Trần Thanh Đ 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30-8-2023. Giao bị cáo Trần Thanh Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về xử lý vật chứng: Trả lại cho cho bị cáo: 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số 940224006515, cấp ngày 02-8-2022 mang tên Trần Thanh Đ và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 83P2-293.95 số 001745 cấp ngày 23-3-2020 do Trần Thanh Đ đứng tên.

5/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thanh Đ phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6/ Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ