vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 25/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 25/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vui

Bà Nguyễn Thị Kiều Trang

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Bá Anh Hùng– Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Lê Giang Huy- Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20 /2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023.

Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh.

Điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Ninh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lê Văn L, sinh ngày 15/5/1993 tại Đăk Lắc; tên gọi khác; không; Nơi cư trú: ấp Hưng Thịnh, xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh, Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông : Lê Văn Lịch. và bà Trần Thị Oanh; Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án: ngày 15/01/2021 TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phươc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ;Tiền sự: không.

Nhân thân:ngày 07/11/2014 TAND huyên Lộc Ninh xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội trộm cắp tài sản.

Ngày 22/6/2020 TAND huyện Lộc Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng.

Bị tạm giam từ ngày 01/11/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 01/11/2022, Công an huyện Lộc Ninh kết hợp với Công an xã Lộc Điền kiểm tra hành chính đối với Lê Văn L phát hiện L đang tìm nơi tiêu thụ xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave. Biển số 18H1-426.73.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhân như sau: Vào khoản 04 giờ 30 phút ngày 01/11/2022 L đang ở nhà của anh Đặng Văn Hiếu ấp Hưng Thịnh, xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh thì có người tên Tèo (không rõ nhân thân) nhà ở Bình Long điều kiển xe mô tô màu xanh hiệu Wave gặp L hỏi có mua xe không? L biết xe này do trộm cắp mà có nên hỏi xe mày ở đâu, Tèo nói yên tâm ở xa lắm. L đồng ý mua với giá 3.500.000đ.

Sau khi mua được xe L gọi điện thoài cho Nguyễn Xuân Na để bán xe, nhưng Na trả lời Na không có ở nhà nhưng L vẫn đem xe vào nhà của Na thì bị Công an phát hiện và thu giữ xe cùng giấy đăng ký xe.

Tại bản kết luận số: 36A/KL-HĐ ĐGTSTTHS ngày 07/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh kết luận, 01 một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh-đen biển số 18H1-426.73 trị giá 8.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS, ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố Lê Văn L về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 21 đến 24 tháng tù.

Các bị cáo không tranh luận và không kêu oan.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Khoảng 4 giờ 30 phút tại nhà của anh Đặng Văn Hiếu thuộc ấp Hưng Thịnh, xã Lộc Thịnh khi có người tên Tèo đem 01 chiếc xe mô tô bán cho L.

Về ý thức chủ quan: Bị cáo L biết rõ nguộc gốc của chiếc xe là do trộm cắp mà có, sau đó đem bán lại kiếm lời để có tiền tiêu sài nên đã vẫn thực hiện hành vi phạm pháp.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa công khai, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng L trách nhiệm hình sự.

Hành vi của các bị cáo gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, tạo điều kiện cho các đối tượng trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý.

Do vậy, cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội.

Xét về nhân thân:

Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 bị TAND huyện Lộc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và thuộc trường hợp đương nhiên xoá án tích.

Về tiền án: Năm 2021 bị cáo bị TAND huyện Chơn Thành xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Tuy đã chấp hành xong hình phạt, nhưng tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng tặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên được hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với người tên Tèo quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh không tìm được nên chưa có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Xuân Na quá trình điều tra, Na khai nhận vào khoảng 5 giờ ngày 01/11/2022 L có gọi điện thoại cho Na để bán xe nhưng Na không có ở nhà và cũng không hứa hẹn gì về việc mua xe nên không có căn cứ xử lý Nguyễn Xuân Na.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh thực đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp nên được chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

-Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, biển số 18H1-426.73 là tài sản của anh Vũ Đức Duy sinh năm 2002 bị mất trộm vào rạng sáng ngày 01/11/2022 tại xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, đã ra Quyết định xử lý vật chứng bàn giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản để xử lý theo quy định nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, 01 điện thoại di động OPPO A54 là tài sản cá nhân của Lê văn L, không liên quan đến vụ án, trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: không phát sinh

Về án phí: bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 02(hai) năm tù.Thời gian tính tù từ ngày 01/11/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3.Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả cho bị cáo Lê Văn L với 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, 01 điện thoại di động OPPO A54.

( Vật chứng được thống kê, mô tả như trong biên bản giao vật chứng, tài sản

số 0006985 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh,

tỉnh Bình Phước).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ