- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 25- 4- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh
2. Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Lệ Hoài – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà: Ông Ngô Xuân T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Hội trường UBND xã NH, huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 29/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 13/4/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 19/10/1988;
ĐH, tỉnh TN; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nông Văn V, sinh năm 1960; Con bà: Lý Thị H, sinh năm 1963; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 21/8/2020; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Liễu Văn C,
sinh năm 1995 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm ĐC, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN.
* Người chứng kiến:
1. Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1973 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm NQ, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN.
2. Anh Mạch Văn L, sinh năm 1978 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm QT, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 45 phút ngày 01/01/2023, tổ công tác Công an huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng Công an xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN phát hiện 02 người đàn ông đang có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy tại khu vực gần đập tràn ML thuộc xóm ML, xã NH, huyện ĐĐh (sau xác định được là Nông Văn T, sinh năm 1988, trú tại xóm QT, xã NH, huyện Đh và Liễu Văn C, sinh năm 1995, trú tại xóm ĐC, xã NH, huyện ĐH). Tổ công tác đã tiếp cận để yêu cầu kiểm tra đối với hai người trên. Quá trình kiểm tra đối với Nông Văn T, T tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên phải mình đang mặc ra 08 gói nhỏ, trong đó có 07 gói nhỏ bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, và 01 gói nhỏ bằng giấy bạc màu vàng, cả 08 gói nhỏ này bên trong đều có chứa chất bột màu trắng (T khai là Heroine) giao nộp, phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu tím đã cũ. Kiểm tra đối với Liễu Văn C, phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải C đang mặc số tiền 100.000 đồng, tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Hỷ tiến hành
khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn T tại xóm QT, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN, kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của
Nông Văn T khi bắt quả tang là 0,878g lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1.
Tại bản Kết luận giám định số: 184/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,878 gam.
Qúa trình điều tra Nông Văn T khai nhận: Bản thân nghiện ma túy nên
thường xuyên mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho đối tượng nghiện khác kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2023, T một mình đến khu vực phía sau siêu thị Vincom Plaza thuộc phường QT, thành phố TN tìm mua Heroine, đến nơi, T hỏi mua của một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, địa chỉ cụ thể) 01 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng, sau đó mang về nhà chia T nhiều gói nhỏ để bản thân sử dụng và bán kiểm lời. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang ở nhà thì Liễu Văn C gọi điện đến hỏi “còn không để cho em một cái”, T hiểu là C hỏi mua 01 gói Heroine, T đồng ý bán cho C với giá 100.000 đồng và hẹn C ở khu vực đập tràn ML thuộc xóm ML, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN đến nơi hẹn để bán cho C nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an huyện Đồng Hỷ phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, ký
hiệu: A1, LK, ĐT1 và số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSĐH, ngày 29/3/2023 Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nông Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau
khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự, xử phạt bị cáo từ 4 đến 5 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1
và LK.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu
giữ của bị cáo khi bắt quả tang được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT1.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thu giữ của Liễu Văn C do liên quan đến việc mua ma túy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện
kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 01/01/2023, tại khu vực
đập tràn ML thuộc xóm ML, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN. Nông Văn T đang có hành vi tàng trữ 08 gói Heroine có khối lượng là 0,878 gam mục đích để bán cho Liễu Văn C, sinh năm 1995, trú tại xóm Đồng Cỏ, xã NH, huyện ĐH, tỉnh TN 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine trên và vật chứng có liên quan.
Về nguồn gốc số Heroine trên là do T mua của một người đàn ông lạ mặt
(không biết tên, địa chỉ cụ thể) vào khoảng 10 giờ ngày 01/01/2023 tại khu vực phía sau siêu thị Vincom Plaza thuộc phường QT, thành phố TN với giá 1.000.000 đồng, sau đó mang về nhà chia T nhiều gói nhỏ để bản thân sử dụng và bán kiểm lời.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; vật chứng đã thu giữ; bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 07 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng,....”
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo được coi là chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, năm
2019 đã bị xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và là đối tượng nghiện chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc cách ly bị cáo ra
khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy mục đích để kiếm lời,
nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà Nước.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình
phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Vật chứng của vụ án:
- Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1 và LK (bên trong có chứa
vỏ bì và số chất ma túy còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu tím đã cũ
thu giữ khi bắt quả tang bị cáo, đây là chiếc điện thoại bị cáo đã sử dụng liên lạc để bán ma túy cho Liễu Văn C ngày 01/01/2023 nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thu giữ
của Liễu Văn C, đây là tiền liên quan trực tiếp đến việc mua bán trái phép ma túy giữa anh C với bị cáo T ngày 01/01/2023 nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản
án theo quy định của pháp luật.
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát
viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn
ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực phía sau siêu thị Vincom Plaza thuộc phường QT, T phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; do không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
. Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng của Liễu Văn C ngày
01/01/2023 nhưng chưa thực hiện được nên chưa đến mức xem xét xử phạt vi phạm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Ngày 01/3/2023 Công an huyện Đồng Hỷ lập biên bản giáo dục nhắc nhở đối với C là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nông Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Nông Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu:
A1, LK.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn
ký hiệu ĐT1 bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu tím đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)
tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2023
giữa Công an huyện Đồng Hỷ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đồng Hỷ).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Liễu Văn C, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Công an huyện Đồng Hỷ; - Cơ quan THA hình sự - CA huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã NH, huyện ĐH; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Huy Bắc |