- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H , sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-PT Ngày: 07-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Th phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đức Cảnh
Ông Mai Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXPT-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Thị H , do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Thị H ; sinh năm 1979; nơi sinh: Xã Hải Đ, huyện Hải H, tỉnh Nam Đ; nơi cư trú: Xóm 10, xã Hải L, huyện Hải H, tỉnh Nam Đ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Lâm Thị Kh; có chồng là Phạm Văn KH ; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-10-2022 đến ngày 23-10-2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Th (Vắng mặt).
2. Anh Phạm Văn KH (Vắng mặt).
3. Chị Phạm Thị Ng (Vắng mặt).
4. Bà Nguyễn Thị Nh (Vắng mặt).
5. Chị Trần Thị T (Vắng mặt).
6. Chị Nguyễn Thị M (Vắng mặt).
7. Ông Nguyễn Văn L (Vắng mặt).
Ngoài ra, vụ án còn có 06 bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 14-10-2022, Nguyễn Thị M đến nhà Phạm Văn Th ở xóm Tây C, xã Hải L, huyện Hải H gặp vợ Th để lấy tiền bán cá. Do vợ con Th không ở nhà, M hỏi Th: “Có ai chơi liêng không?”, Th trả lời “Có ai đâu mà chơi”. M sử dụng điện thoại di động NOKIA 1010 gọi điện rủ Nguyễn Thị M1 Phạm Thị H đến nhà Th đánh bạc. Th trải 02 chiếc chiếu nhựa xuống nền bếp và lấy 02 bộ tú lơ khơ (Có sẵn trong nhà) để trên mặt chiếu. Khoảng 10 phút sau H , Mai lần lượt đến, Th dẫn M, H , Mai vào bếp. Tiếp đó, Nguyễn Văn Th2 đến nhà Th chơi, thấy các đối tượng đánh bạc nên tham gia cùng. Trước khi chia bài, M nói: Ai liêng đồng hoa thì ra cho ông Th 20.000đồng, sáp thì ra cho ông Th 30.000đồng, mục đích trả tiền hồ cho Th. M, H , M1 Th2 thống nhất đánh liêng ăn tiền, cách chơi như sau: Mỗi người góp 10.000đồng vào giữa chiếu bạc gọi là góp “Gà”; người được chọn khi bắt đầu đánh bạc hoặc người thắng lượt chơi trước sẽ chia bài theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, mỗi người được chia 3 quân, sau khi chia và lên bài xong người chia bài sẽ là người được quyền “Tố” có nghĩa là đưa ra số tiền lớn hơn hoặc bằng số tiền người đã góp vào “Gà” trước đó, hoặc úp bỏ bài đầu tiên, mức “Tố” từ 10.000đồng đến 100.000đồng. Thứ tự chơi của mọi người sẽ theo vòng ngược chiều kim đồng hồ, người thứ hai đến lượt chơi sẽ có quyền bỏ bài, theo số tiền mà người chơi đầu tiên ”Tố” hoặc “Tố” với số tiền cao hơn mà người chơi trước đưa ra, cứ lần lượt như vậy đến người cuối cùng. Lượt chơi sẽ kết thúc khi không có ai “Tố” thêm, nếu còn ít nhất hai người chơi theo vòng “Tố” thì tất cả người chơi sẽ hạ bài xuống để so điểm, bài ai cao điểm nhất sẽ thắng. Cao nhất là “Sáp” tức là ba cây bài giống nhau, sau đó đến “Liêng” tức ba cây bài có thứ tự liền nhau liên tục, đến “Ảnh” tức là có 3 cây bài đều là hình J, Q, K, cuối cùng là tính điểm cộng lại của 3 cây bài, cao nhất là 9 điểm, thấp nhất là 1 điểm. Nếu cuối cùng chỉ còn lại 1 người “Tố” mà không ai theo thì người đó thắng và bài sẽ được giữ kín mà không phải so bài với ai, người thắng sẽ hưởng toàn bộ số tiền góp gà lúc đầu và tiền của những người tham gia “Tố”. Th không tham gia đánh bạc mà ngồi xem để thu tiền hồ. Khoảng 20 giờ 30 phút, Trần Thị L và Trần Văn D đến nhà Th, thấy mọi người đang đánh bạc nên vào đánh bạc cùng. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi M, H , M1 Th2, L, D đang đánh bạc, Th ngồi ngoài thu tiền hồ thì bị Công an huyện Hải Hậu phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.970.000đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân bài, 02 chiếc chiếu nhựa. Thu giữ 01 điện thoại NOKIA 1010 cùng sim số thuê bao 0378.609.153 của M; 01 điện thoại Vivo1820 cùng sim số thuê bao 0972.092.776 và số tiền 100.000 đồng của Mai; 01 điện thoại Samsung Galaxy On7 kèm sim số thuê bao 0372.650.752 và số tiền 1.650.000đồng của H ; 1.000.000đồng của D và 80.000đồng của Th. Các khoản tiền thu giữ kể trên, H , D khai sử dụng để đánh bạc; Th khai là tiền hồ do các bị cáo khác nộp theo thỏa thuận ban đầu.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS),
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Đánh bạc”;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 10 năm 2022 đến ngày 23 tháng 10 năm 2022.
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023 bị cáo Phạm Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội đánh bạc là đúng người, đúng tội, tuy nhiên hoàn cảnh bị cáo là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi 03 con ăn học, chồng bị cáo mới bị tai nạn, từ khi được tại ngoại bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật và quy định của địa pH đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc cho gia đình.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn chồng bị cáo bị tai nạn gãy chân, 03 con đều còn nhỏ, bị cáo là lao động chính mong Hội đồng xét xử xem xét
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung: Bị cáo nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, đối chiếu quy định của pháp luật bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 09 tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về việc làm của mình mong Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Khoảng 20 giờ ngày 14-10-2022, Nguyễn Thị M gọi điện rủ Nguyễn Thị M1 Phạm Thị H đến nhà Phạm Văn Th ở xóm Tây C, xã Hải L, huyện Hải H, tỉnh Nam Đ để đánh bạc dưới hình thức đánh liêng ăn tiền. Quá trình đánh bạc lần lượt có Nguyễn Văn Th2, Trần Thị L và Trần Văn D đến tham gia cùng. Phạm Văn Th không đánh liêng ăn tiền cùng các bị cáo, nhưng đã chuẩn bị công cụ và đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình để thu tiền hồ. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi M, H , M1 Th2, L và D đang sát phạt nhau thì bị Công an huyện Hải Hậu phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.800.000 đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân và 02 chiếc chiếu nhựa, nên cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H xin được hưởng án treo thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối hận, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có đơn trình bày về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, đơn có xác nhận của chính quyền địa pH , do đó, bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Như vậy, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có vị trí, vai trò thứ yếu trong vụ án, ngoài lần phạm tội này, bản thân và gia đình luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước, nên có căn cứ chấp nhận đề nghị của bị cáo và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tại phiên tòa, cần áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được tu dưỡng, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa pH cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do sửa án sơ thẩm, nên người kháng cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS,
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H , sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 BLHS,
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Đánh bạc”;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 10 năm 2022 đến 23 tháng 10 năm 2022).
Giao bị cáo Phạm Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Hải L, huyện Hải H, tỉnh Nam Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Pháp luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;
2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người bị thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND-CA tỉnh Nam Định; - TAND-VKS-CA huyện Hải Hậu; - Chi cục Thi hành án huyện Hải Hậu; - UBND xã Hải Lý, huyện hải Hậu; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |