- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-8-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Dhiểu Hmŏk và ông Nguyễn Văn Đăng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2023, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Anh Lê Ánh G, sinh năm 1990 – vắng mặt.
Địa chỉ: Số Y, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày có nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh G sống với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ngày 23/10/2015. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian sau đó hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi nhau các vấn đề trong cuộc sống, bất đồng quan điểm nên chị chuyển nơi làm việc và về nhà mẹ đẻ sinh sống, vì vậy chị và anh G đã sống ly thân. Nay nhận thấy nên tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Lê Minh P, sinh ngày 01/8/2016 và cháu Lê Đăng K, sinh ngày 07/7/2018 khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu P và cháu K cho chị H nuôi đến khi đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung
Về tài sản: Chị H và anh G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Ánh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến
Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 15/3/2023, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và đơn từ chối lựa chọn thủ tục hòa giải tại Tòa án, ngày 20/3/2023 Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 22/3/2023 nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí; ngày 24/3/2023 nguyên đơn nộp biên lai thu tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Ánh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh G là hợp pháp được pháp luật bảo vệ, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ngày 23/10/2015. Sau khi kết hôn, chị H và anh G sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, hiện nay chị H và anh G đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh G thì địa phương xác định: Chị H và anh G mâu thuẫn cãi nhau, chị H chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống và đã sống ly thân.
Như vậy, Hội đồng xét xử thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho chị H ly hôn với anh G là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh G có 02 con chung là cháu Lê Minh P, sinh ngày 01/8/2016 và cháu Lê Đăng K, sinh ngày 07/7/2018; chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyện vọng chị H là chính đáng, bản thân cháu P cũng có nguyện vọng ở với chị H; mặt khác kết quả xác minh tại địa phương cho thấy cháu P và cháu K đang sinh sống cùng chị H; quá trình giải quyết vụ án, anh G mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu P và cháu K cho đến khi đủ tuổi thành niên là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản: Chị H và anh G tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 144; Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Ánh G.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lê Minh P, sinh ngày 01/8/2016 và cháu Lê Đăng K, sinh ngày 07/7/2018 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Anh G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết
4. Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018469 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - CCTHADS thị xã B; - UBND phường T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi văn Khanh |