- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST Ngày 17 - 02 - 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành
Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 288/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 314/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT: Khối 2, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Số 193-2, ngõ 193, đường Zhongxing, quận Sanchong, thành phố Taipei, Đài Bắc (Trung Quốc). Đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1995. Nơi đăng ký HKTT: Khối 2, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Đài Loan – Trung Quốc (Không rõ địa chỉ). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Th (Mẹ của anh Nguyễn Văn Tr). Địa chỉ cư trú: Khối 2, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 30/6/2022 và tại các lời khai chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị Đ và anh Nguyễn Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 14/10/2015 tại Ủy ban nhân dân phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, tháng 4 năm 2016 chị Đ xuất cảnh đi Đài Loan lao động đến giữa năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thiếu sự thông cảm lẫn nhau, nên thường xảy ra xung đột và hai người đã cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Đ yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.
Về nuôi con chung: Chị Đ và anh Nguyễn Văn Tr có một con chung Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/10/2013, tại thời điểm tháng 6/2022 cháu đang ở với anh Tr và bà Ngô Thị Th (mẹ anh Tr) và là bà nội của cháu nuôi dưỡng. Tại đơn ly hôn và lời khai ngày 30/6/2022, chị Đ đồng ý giao cháu H cho anh Tr nuôi dưỡng, nhưng hiện anh Tr cũng đã xuất cảnh đi nước ngoài và hiện chị Đ đang về Việt Nam nên chị Đ đề nghị Tòa án giao cháu H cho chị Tr nuôi dưỡng và chị Tr nhờ bà Ngô Thị Th (mẹ anh Tr và là bà nội cháu) quản lý, chăm để cháu ổn định tâm sinh lý và nơi học tập khi chị Tr đi làm ăn xa. Về cấp dưỡng, chị Đ không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung và không nợ ai cũng không có ai nợ vợ chồng, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Nguyễn Văn Tr: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn Tr thông qua bà Ngô Thị Th là mẹ của anh Tr, anh Tr đã biết chị Đ yêu cầu ly hôn, nuôi con chung chưa thành niên, nhưng anh Nguyễn Văn Tr vắng mặt cũng không có ý kiến gì.
Nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Khánh H tiếp tục được ở với bà nội là bà Ngô Thị Th để ổn định nơi ở và học tập.
Bà Ngô Thị Th trình bày: Vợ chồng anh Tr, chị Đ có con chung Nguyễn Thị Khánh H sinh năm 2013, từ khi hai vợ chồng đi nước ngoài làm ăn, bà Th là người được anh Tr, chị Đ nhờ trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu. Nay vợ chồng ly hôn, bà Th không yêu cầu vợ chồng chị Đ, anh Tr phải thanh toán các khoản chi phí mà bà đã chăm sóc cháu. Bà Th đề nghị, nếu Tòa án giao cháu H cho chị Đ nuôi dưỡng thì bà Th đồng ý và cam kết sẽ tiếp tục quản lý, chăm sóc cháu chu đáo trong thời gian chị Đ đi làm ăn xa. Bà Th đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ; cho ly hôn giữa chị Đ và anh Tr; giao con chưa thành niên cho chị Đ nuôi dưỡng; tài sản chung chưa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Anh Nguyễn Văn Tr hiện đang ở nước ngoài, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo bà Ngô Thị Th mẹ anh Tr xác định thì, anh Nguyễn Văn Tr hiện đang cư trú tại Đài Loan – Trung Quốc. Mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh Tr thường liên lạc điện thoại với bà Th nên anh Tr đã biết được việc chị Đ yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và cũng không có ý kiến gì. Do đó, việc anh Nguyễn Văn Tr vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo.
Chị Nguyễn Thị Đ ở nước ngoài về nước, sau khi nộp đơn khởi kiện và trình bày quan điểm, nhưng vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án được. Chị Tr ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Cẩm Duyên giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đề nghị giải quyết, xử vắng mặt (Có xác nhận của Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc).
Đối với bà Ngô Thị Th người được anh Tr, chị Đ gửi, nhờ trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Thị Khánh H con chung vợ chồng anh Tr, chị Đ đang ở nước ngoài, nhưng bà Th không có yêu cầu gì và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1, khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không thể hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa, mặc dù chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn Tr và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, tháng 4 năm 2016 chị Đ xuất cảnh đi Đài Loan làm ăn đến giữa năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thiếu sự thông cảm lẫn nhau, nên thường xảy ra xung đột và hai người đã cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay, chị Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho họ ly hôn.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr có một con chung Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/10/2013 hiện cháu đang do bà Ngô Thị Th mẹ của anh Tr và là bà nội cháu quản lý, chăm sóc. Mặc dù, chị Nguyễn Thị Đ đang ở nước ngoài, có nơi cư trú ổn định và hiện đang về Việt Nam. Nguyện vọng cháu H được ở với bà nội và bà Th cam kết tiếp tục quản lý chăm sóc cháu chu đáo cho đến khi chị Đ có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, do đó cần giao cháu H cho chị Đ nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng, hiện chị Đ không yêu cầu và anh Tr cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Tài sản chung: Hiện tại chị Đ không yêu cầu giải quyết và anh Tr cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về việc quản lý, chăm sóc con chung: Bà Ngô Thị Th là người trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Thị Khánh H trong thời gian từ khi chị Đ, anh Tr ở nước ngoài. Tuy nhiên, bà Th không yêu cầu vợ chồng chị Đ, anh Tr phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc cháu và tự nguyện cam kết chăm sóc quản lý, nuôi dưỡng cháu trong thời gian chị Đ chưa có điều kiện trực tiếp nuôi cháu, nên cần chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn Tr.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung cháu Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 18/10/2013 cho chị Nguyễn Thị Đ nuôi dưỡng.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Th nhận trách nhiệm tiếp tục quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Thị Khánh H trong thời gian chị Đ chưa về nước.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Đ chưa yêu cầu và anh Nguyễn Văn Tr chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Anh Nguyễn Văn Tr có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012246 ngày 24/10/2022 (Nguyễn Thị Cẩm Duyên nộp thay).
5. Về quyền kháng cáo:
5.1. Chị Nguyễn Thị Đ cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
5.2. Anh Nguyễn Văn Tr đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
5.3. Bà Ngô Thị Th vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND phường Nghi Tân, TX Cửa Lò, NA, - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Văn Ph |