vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn anh Nguyễn Văn K. 2/ Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K có 02 con chung là Nguyễn Thanh T -Sn: 11/3/2018 và Nguyễn Hoàng D -Sn: 03/02/2020. Giao chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con Nguyễn Thanh T và Nguyễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình giữa L - K"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
Tỉnh Thái Bình
Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19 / 4 / 2023.
V/v: T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Bảo.

- Các hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Mã Siêu.

- Bà Vũ Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Trần Quỳnh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 200/2022/TLST - HNGĐ ngày 14/11/2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXX- HNGĐ ngày 06/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2023/QĐST - HPT ngày 24/3/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L - Sinh năm: 1998.

ĐKHK: PT, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, huyện T, Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K - Sinh năm: 1994. Địa chỉ: Thôn PT, xã P, huyện T, Thái Bình.

(Chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt chị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K tự nguyện kết hôn ngày 07/5/2018, có đăng ký tại UBND xã P, huyện T. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận; Nhưng từ năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn; Nguyên nhân là do anh K đã ngoại tình và thường xuyên rượu chè, cờ bạc rồi hành hung vợ con; Không tu chí làm ăn mà còn nhiều lần vay nợ và bán hết các tài sản có giá trị để chơi bời, cờ bạc; Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân anh K từ ngày 01/3/2022 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị TAND huyện Tiền Hải giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn K. Chị và anh K có 02 con chung là Nguyễn Thanh T -Sn: 11/3/2018 và Nguyễn Hoàng D - Sn: 03/02/2020. Ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi dậy cả 02 con chung và chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi 02 con T và D cùng chị. Tài sản và công nợ chung của vợ chồng không có gì; Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản.

- Tại biên bản lấy lời khai, ông Nguyễn Văn T (Bố đẻ anh K) trình bày: Anh K và chị L tự tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 07/5/2018 tại UBND xã P. Sau khi kết hôn vợ chồng K - L thuê nhà tại TP. Thái Bình sinh sống, được một thời gian thì lại về P sống cùng gia đình ông. Đến tháng 7/2022 chị L tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống; Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng K - L như thế nào ông không nắm được. Nay chị L xin ly hôn anh K, ông không có ý kiến gì và ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng K - L có 02 con chung là Nguyễn Thanh T -Sn: 11/3/2018 và Nguyễn Hoàng D -Sn: 03/02/2020. Nếu ly hôn, thì ông đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Tài sản và nợ chung của vợ chồng K - L không có gì. Hiện anh K đang làm ăn tại HP và vẫn thường xuyên L lạc với ông và đi về xã P; Anh K biết việc chị L xin ly hôn và đã nhận được các giấy tờ, thông báo của Tòa án do ông giao lại; Nhưng vì anh K bận việc, nên anh K không đến Tòa án làm việc và giải quyết ly hôn được.

- Tại biên bản xác minh ngày 09/01/2023, UBND xã P cung cấp: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K có hộ khẩu tại xã P, huyện T. Chị L và anh K kết hôn ngày 07/5/2018, có đăng ký tại UBND xã P. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng K - L chính quyền địa phương không rõ. Chị L và anh K có 02 con là Nguyễn Thanh T -Sn: 11/3/2018 và Nguyễn Hoàng D -Sn: 03/02/2020. Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng K - L chính quyền địa phương không rõ. Hiện anh K đang sống cùng gia đình ông Thiện tại thôn PT, xã P và thường xuyên đi làm ăn tại HP; Chính quyền địa phương đã giao các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án cho anh K và gia đình, còn việc anh K có đến Tòa án để làm việc hay không, UBND xã không rõ. Việc giải quyết ly hôn giữa chị L và anh K, Chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án và ý kiến về phần án phí Dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa cũng như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn K có hộ khẩu và hiện đang cư trú tại xã P, huyện Tiền Hải. Theo quy định tại điều 39 BLTTDS, vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa chị L và anh K thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tiền Hải. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án; Thông báo việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh K, nhưng anh K đều cố ý không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh K; Nhưng anh K đều vắng mặt không lý do; Như vậy là anh Nguyễn Văn K đã từ chối quyền được trình bày, hòa giải theo quy định của BLTTDS. Nên Tòa án đã đủ căn cứ để mở phiên tòa xét xử vụ án. TAND huyện Tiền Hải đã mở phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 24/3/2023 nhưng anh K không có mặt; Nên HĐXX đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do; Chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; Nên Hội đồng xét xử TAND huyện Tiền Hải căn cứ vào điều 227 BLTTDS xét xử vụ án theo thủ tục chung.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Tiền Hải vào ngày 07/5/2018. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng; Từ tháng 3/2022 chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân anh K cho đến nay; vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Xét yêu cầu của chị L xin ly hôn anh K, Hội đồng xét xử thấy chị L và anh K đã sống ly thân từ tháng 3/2022, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế. Anh Nguyễn Văn K biết việc chị L xin ly hôn; Nhưng anh K cố tình không đến Tòa án làm việc và cũng không đưa ra được biện pháp để khắc phục quan hệ vợ chồng. Như vậy HĐXX; Xác định hôn nhân giữa chị L và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Nên Hội đồng xét xử; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị L, giải quyết cho chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn anh Nguyễn Văn K là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K có 02 con chung là Nguyễn Thanh T -Sn: 11/3/2018 và Nguyễn Hoàng D -Sn: 03/02/2020. Ly hôn, chị L xin được tiếp tục nuôi dậy cả 02 con Nguyễn Thanh T và Nguyễn Hoàng D và chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn K phải cấp dưỡng nuôi 02 con T và D cùng chị. Xét thấy 02 con T và D đang do chị L nuôi dưỡng; Tòa án không ghi được ý kiến của anh Nguyễn Văn K. Nên để đảm bảo cho việc sinh hoạt ổn định của con T và D; Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị L về phần con chung; Giao 02 con Nguyễn Thanh T và Nguyễn Hoàng D cho chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi các con T và D không đặt ra giải quyết. Khi nào chị L có đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L khai tài sản và công nợ chung của vợ chồng không có gì; Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung. Tòa án không ghi được ý kiến của anh Nguyễn Văn K; Nên phần tài sản và công nợ chung của vợ chồng K - L không đặt ra giải quyết. Khi nào chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K có yêu cầu chia tài sản chung thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 228, 271 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27, điều 48 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn anh Nguyễn Văn K.

2/ Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K có 02 con chung là Nguyễn Thanh T -Sn: 11/3/2018 và Nguyễn Hoàng D -Sn: 03/02/2020. Giao chị Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con Nguyễn Thanh T và Nguyễn Hoàng D. Việc cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Thanh T và Nguyễn Hoàng D không đặt ra giải quyết; Khi nào chị L có đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác. Anh Nguyễn Văn K được quyền thăm nom các con chung.

3/ Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Khi nào chị Nguyễn Thị Kim L và anh Nguyễn Văn K có yêu cầu chia tài sản chung thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.

4/ Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí LHST. Chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp tại Chi cục THADS huyện Tiền Hải theo biên lai thu số: 002545 ngày 14/11/2022 thành tiền án phí.

5/ Quyền kháng cáo: Chị L và anh K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ