vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Minh Đ. [2] Về con chung: giao cho bà Nguyễn Thị Thu T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Minh P, sinh ngày 22/5/2010 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/11/2015. Ông Nguyễn Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu T xin ly hôn Nguyễn Minh Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thái Lãm và bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 277/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1990

Địa chỉ: khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1982

Địa chỉ: khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Minh Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vào năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà T là do bất đồng quan điểm, hay kình cãi. Hai bên đã sống xa nhau từ năm 2019, không ai quan tâm ai và ông Đ đã bỏ đi khỏi địa phương. Bà T đã yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Đ nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T xin ly hôn ông Đ.

Con chung: vợ chồng có hai con chung tên là Nguyễn Minh P, sinh ngày 22/5/2010 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/11/2015. Cháu P và T đang ở với bà T. Khi ly hôn, bà T xin nuôi hai con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà T không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn ông Nguyễn Minh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T; về con chung: giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu P và T, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Minh Đ, trú tại: khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông Đ.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân:

Bà T và ông Đ tự nguyện kết hôn vào năm 2009, được Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2009, ngày 16/9/2009 là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp tính, quan điểm bất đồng nên thường xuyên kình cãi. Đến năm 2019, ông Đ đã bỏ đi khỏi địa phương. Bà T đã yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Đ. Ngày 15 tháng 3 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa đã ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS, chấp nhận thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Đ và đã thông báo tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì. Xét mâu thuẫn giữa bà T, ông Đ đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Con chung: bà T và ông Đ có 02 con chung tên là Nguyễn Minh P, sinh ngày 22/5/2010 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/11/2015 hiện do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu P và T có nguyện vọng xin ở với bà T. Để đảm bảo cho cháu P và T được ổn định chỗ ở, phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, cần giao cháu P và T cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí: nguyên đơn bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Minh Đ.

[2] Về con chung: giao cho bà Nguyễn Thị Thu T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Minh P, sinh ngày 22/5/2010 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/11/2015. Ông Nguyễn Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Minh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[4] Về án phí: bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0006428 ngày 25/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, đã nộp đủ.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ