vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Q. Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Q ly hôn với anh Thạch Sa V.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa chị H và anh V"
  • Tòa quyết gì? tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 02 - 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Được

2. Ông Lê Văn Đáng

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia

phiên tòa: Ông Lý Phước Bền, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm

2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa

số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/02/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp S, xã L,

huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Bị đơn: Anh Thạch Sa V, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp S, xã L, huyện C,

tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2022, cũng như tại phiên tòa hôm nay

nguyên đơn Thạch Thị Q trình bày và có yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Vào năm 2004 chị Q và anh Thạch Sa V quen biết, tự

nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C,

tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn

bất hòa, cải vả do anh V thay đổi tính tình không chăm lo gia đình như thường

uống rượu, còn có người phụ nữ khác bên ngoài, tính tình nóng nải hay vô cớ

dùng lời lẻ xúc phạm và đánh chị nhiều lần, chị Q nhiều lần khuyên để vợ chồng hòa thuận nhưng tính tình anh V không thay đổi, do đó chị và anh V sống riêng từ tháng 10/2021 đến nay. Sau khi sống riêng chị không còn tin tưởng, không tạo điều kiện hàn gắn lại, nay chị Q thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Thạch Sa V.

- Về con chung tên: Thạch Vân Q, sinh ngày 25/4/2005, Thạch Thị Quyền

Nh, sinh ngày 25/9/2009, chị Q yêu cầu tiếp tục nuôi các con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không tranh chấp, không yêu cầu giải

quyết.

- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị Q không

tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị Q không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn Thạch Sa V vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình giải quyết

anh V có lời khai như sau:

- Về hôn nhân: Anh và chị Q tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn

theo quy định. Trong thời gian chung sống giữa anh và chị Q có mâu thuẫn bất đồng quan điểm, cải vả qua lại nên anh và chị Q sống riêng từ tháng 10/2021 đến nay. Sau khi sống riêng nhiều lần anh V tìm cách hàn gắn lại nhưng chị Q không đồng ý; anh V xác định còn thương chị Q nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung tên: Thạch Vân Q, sinh ngày 25/4/2005, Thạch Thị Quyền

Nh, sinh ngày 25/9/2009, anh V đồng ý để chị Q tiếp tục nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V không tranh chấp, không yêu cầu giải

quyết.

- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Anh V không

tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Anh V không có yêu cầu khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án,

xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần phiên họp, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho các đương sự và xét thấy việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa đúng.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81 của

Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Q. Về hôn nhân cho chị Q ly hôn với anh V. Về con chung tên Thạch Vân Q, sinh ngày 25/4/2005, Thạch Thị Quyền Nh, sinh ngày 25/9/2009 đề nghị giao chị Q được quyền nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản và nợ chung các đương sự không tranh chấp, đề nghị không xem xét. Về án phí hôn nhân sơ thẩm căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc chị Q phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Thạch Sa V đã được triệu tập hợp lệ

lần thứ hai nhưng cố ý vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của

Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Q tranh

chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Thạch Sa V; địa chỉ ấp S, xã L, huyện C. Căn

cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp

luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án.

Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Thạch Thị Q và anh Thạch Sa V chung

sống với nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, 9

của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị Q và anh V là hợp

pháp.

Quá trình chung sống giữa chị Q và anh V bất đồng quan điểm, anh chị

không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2021 đến nay. Anh V thừa nhận trong

cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau

dẫn đến cải vả và sống riêng nhưng anh còn thương chị Q và hứa sửa đổi tính tình

lo cho gia đình nên yêu cầu hàn gắn lại, không đồng ý ly hôn. Quá trình giải quyết

nhiều lần Tòa án mở phiên hòa giải tạo điều kiện hàn gắn hôn nhân giữa chị Q và

anh V nhưng chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu

ly hôn với anh V. Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn giữa chị Q và anh V

ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân

không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận

yêu cầu ly hôn của chị Q.

Về con chung: Giữa chị Q và anh V có hai người con tên Thạch Vân Q,

sinh ngày 25/4/2005, Thạch Thị Quyền Nh, sinh ngày 25/9/2009; các con có

nguyện vọng sống chung với chị Q. Chị Q yêu cầu được nuôi con, anh V đồng ý

để chị Q tiếp tục nuôi con, anh không tranh chấp.

Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao

con tên Thạch Vân Q, Thạch Thị Quyền Nh cho chị Q được quyền trực tiếp trông

nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con sau khi ly hôn là đảm bảo cuộc sống của

con và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết chị Q và anh V không

tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Xét thấy

trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết chị Q và anh Vân không tranh chấp,

không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Hiện hộ gia đình của chị Q không còn

thuộc hộ cận nghèo, do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị Q phải nộp 300.000 đồng theo quy định pháp luật.

Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên về trình tự, thủ tục tố tụng và quan

điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3

Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Q.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Q ly hôn với anh Thạch Sa V.

- Về con chung: Giao chị Thạch Thị Q được quyền trực tiếp trông nom,

chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Thạch Vân Q, sinh ngày 25/4/2005, Thạch Thị Quyền Nh, sinh ngày 25/9/2009.

Anh Thạch Sa V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q và anh V không tranh chấp, không khởi

kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ nợ phải thu, phải trả: Quá

trình giải quyết vụ án chị Q và anh V không tranh chấp, không khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc Thạch Thị Q phải nộp 300.000 đồng

(Ba trăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và

9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ