vanban.org

Bản án 32/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. (theo Biên thu tiền số 0000701, ngày 08/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm ANh T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HSST
Ngày: 24/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Đông

2. Ông Châu Thanh Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2022/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Anh T (không có tên gọi khác), sinh năm 1999; tại Vĩnh Long; nơi cư trú tại số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: thợ điện; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T và bà Mai Thanh H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/12/2020 bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính Công an tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (đá gà ăn thua bằng tiền), đến ngày 20/01/2021 T mới nộp phạt xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (có mặt)

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Nhựt T1, sinh năm 1983; nơi cư trú số N, khóm B, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

2. Lê Văn T2, sinh năm 1997; nơi cư trú số S, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

3. Phạm Tuấn K (H), sinh năm 1986; nơi cư trú số H, đường C, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

4. Hồ Văn T3, sinh năm 1965; nơi cư trú số M, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

5. Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1981; nơi cư trú số H, đường C, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

6. Lê Văn T4, sinh năm 1969; nơi cư trú số H, đường C, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/01/2022, khi Phạm Anh T đi ăn sáng với Lê Văn T2 thì gặp Phạm Tuấn K (tên thường gọi là H) đang ngồi uống cà phê với Nguyễn Hoàng K2; T có nói với K là T có con gà trống nòi nặng khoảng 2,9kg thì K nói với T là để K tìm gà để đá; T nói với K là để T và T2 đi ăn sáng xong rồi tính. Khoảng 30 phút sau, K điện thoại cho T nói hẹn được gà rồi và kêu T ôm gà đến bãi đất trống thuộc tổ T, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (gần cầu Cà Dăm) để đá gà với hình thức ăn thua bằng tiền thì T đồng ý.

Khi T mang gà đến địa điểm trên thì thấy K, Lê Văn T4; Nguyễn Nhựt T1; Hồ Văn T3, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Hoàng K2, Lê Văn M (K2 và M chỉ đứng xem chứ không tham gia cá cược) và một con gà trống nòi màu xanh, đỏ, đen có trọng lượng 2,9kg của Đ đem tới, con gà này là của T3 gửi Đ nuôi. K nói đá độ 1.000.000đ thì T đồng ý; T, T2 và K hùn tiền lại với nhau, trong đó T cược số tiền 500.000đ, T2 cược số tiền 300.000đ, K cược số tiền 200.000đ; nhóm còn lại gồm Đ cược số tiền 100.000đ, T3 cược số tiền 400.000đ, T1 cược số tiền 250.000đ, T4 cược số tiền 250.000đ; ngoài ra, T3 và K còn cược riêng với nhau 200.000đ.

Sau khi thỏa thuận số tiền cược xong thì T và Đ thả gà để đá, khi hai con gà đang đá, chưa phân thắng thua thì Công an Phường 8 đến bắt quả tang. Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: 02 con gà trống nòi màu trắng, đỏ, đen có tổng trọng lượng 5,8kg, 01 cân đồng hồ loại 05 kg màu xanh, 04 cây cựa bằng kim loại có một đầu sắc nhọn, 02 cuộn băng keo màu trắng - cam và số tiền các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc tổng cộng là 2.400.000đ.

Kết quả xác minh xác định Phạm Anh T có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, cụ thể vào ngày 15/12/2020 bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính Công an tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (đá gà ăn thua bằng tiền); đến ngày 20/01/2021 T mới nộp phạt xong, tính đến ngày 09/01/2022 thì chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại tiếp tục vi phạm nên Cơ quan Điều tra Công an thành phố Vĩnh Long tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Anh T về hành vi “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Riêng các đối tượng T4, T1, T3, Đ, K (H), T2 do số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, bản thân các đối tượng không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên Công an Phường 8, thành phố Vĩnh Long đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc đồng thời tịch thu số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 1.900.000đ.

Tại cáo trạng số: 20/CT-VKSND-TPVL, ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm và khẳng định nội dung cáo trạng truy tố bị cáo Phạm Anh T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo nộp số tiền từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu số tiền 500.000đ để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/UBTV-QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Anh T nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Anh T thừa nhận các lời khai trong quá trình điều tra là do bị cáo tự khai và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã nêu, thống nhất với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo đã thấy được lỗi của mình, hứa không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời trình bày và khai nhận tội của bị cáo Phạm Anh T tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2022, bị cáo Phạm Anh T có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức đá gà tại bãi đất trống thuộc tổ T, khóm B, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; hai bên thống nhất cá độ bằng 1.000.000đ (Một triệu đồng), trong đó bên bị cáo T gồm bị cáo cược 500.000đ, T2 cược 300.000đ, K cược 200.000đ; nhóm còn lại gồm Đ cược 100.000đ, T3 cược 400.000đ, T1 cược 250.000đ và T4 cược 250.000đ, ngoài ra, giữa T3 và K còn cược thêm số tiền 200.000đ. Trong lúc đá gà, chưa phân thắng thua thì bị Công an Phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bắt quả tang cùng tang vật.

Mặc dù, số tiền bị cáo T tham gia đánh bạc chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do bị cáo có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính Công an tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo đã nộp phạt xong ngày 20/01/2021, như vậy, tính đến ngày 09/01/2022 thì bị cáo chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính (01 năm) mà lại tiếp tục vi phạm. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã đề nghị truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương và gián tiếp làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi để có thu nhập bất chính, mà bị cáo đã xem thường pháp luật, tụ tập nhiều người tham gia đánh bạc với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã nhận thức được hành vi mà mình thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và mong muốn xảy ra để có được khoản tiền thu lợi bất chính nhằm tiêu xài cá nhân. Điều đó nói lên sự xem thường pháp luật của bị cáo, do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Nhưng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cho nên, có đủ cơ sở cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, cho nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà phạt bị cáo nộp một số tiền nhất định cũng đủ răn đe cho bị cáo sau này.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy số tiền 500.000đ là tiền của bị cáo dùng để tham gia đánh bạc, đây là tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nên tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi đánh bạc của các đối tượng Lê Văn T4, Nguyễn Nhựt T1, Hồ Văn T3, Nguyễn Thanh Đ, Phạm Tuấn K (H), Lê Văn T2, xét thấy số tiền tham gia đánh bạc của các đối tượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Anh T nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Phạm Anh T nộp số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. (theo Biên thu tiền số 0000701, ngày 08/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/UBTV-QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phạm Anh T nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ