- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân BC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HS - ST Ngày 22/8/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Tuấn.
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Tạ Việt Hồng.
2- Bà Triệu Thị Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Thùy, Kiểm sát viên và ông Đặng Văn Hoàng, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2022/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-QĐ ngày 08/8/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân BC (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 30 tháng 3 năm 1973.
Nơi cư trú: Xóm KN, xã LH, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Họ và tên bố: Nguyễn Quốc B (Đã chết);
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C – Sinh năm 1940.
Bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 02.
Vợ: Lương Hồng VK - sinh năm 1976 (đã ly hôn).
Con: 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn CK – Sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm BH, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 12/4/2022 tổ công tác Công an xã S, huyện V thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm BH, xã S phát hiện 01 đối tượng nam giới đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn. Khi Tổ công tác yêu cầu người nam giới này đứng lại để kiểm tra thì người này khai tên Nguyễn Xuân BC, sinh năm 1973, nơi cư trú: xóm KN, xã LH, huyện V, tỉnh Thái Nguyên và BC tự giác giao nộp từ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người 01 gói nilon màu trắng bên trong có 06 gói giấy một mặt màu trắng, mặt còn lại có hoa văn nhiều màu sắc khác nhau, tiến hành kiểm tra thấy bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng bột và dạng cục, Nguyễn Xuân BC khai nhận số chất bột màu trắng trong 06 gói giấy trên là ma túy, loại Heroine của BC mua về để sử dụng. Đồng thời Tổ công tác kiểm tra trên người BC tạm giữ 01 ví giả da màu đen bên trong có 1.260.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có viền màu trắng có gắn thẻ sim đã qua sử dụng. Công an xã S đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với BC và cùng ngày chuyển hồ sơ, đối tượng và vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy mẫu vật gửi giám định đối với 06 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột thu giữ của Nguyễn Xuân BC xác định có khổi lượng 0,410 gam, đã lấy toàn bộ số chất bột trên để tiến hành giám định.
Tại Kết luận giám định số 597/KL-KTHS ngày 20/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phòng bì ký hiệu M thu giữ của Nguyễn Xuân BC gửi giám định là ma túy, loại Heroine; có khối lượng là 0,410 gam.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Xuân BC khai nhận: Bản thân BC là người nghiện ma túy loại Heroine từ lâu. Qua những con nghiện khác nói cho BC biết tại khu vực xóm Trúc Mai, xã LH, huyện V có người bán ma túy nên đầu giờ trưa ngày 12/4/2022 BC đi bộ từ nhà đến khu vực trên để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây BC gặp một người đàn ông không quen biết nên BC đã hỏi và mua được của người này 07 gói ma túy với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, BC cầm ở lòng bàn tay đi về nhà, trên đường đi về đến khu vực Suối Đát thuộc xã LH BC đã sử dụng 01 gói ma tuý, 06 gói ma tuý còn lại BC gói lại trong 01 túi nilon màu trắng rồi cất vào túi quần phía sau bên trái mình đang mặc. Khi về đến nhà BC tiếp tục đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết đi từ nhà đến xã S để tìm việc làm thuê. Khi đi đến xóm BH, xã S BC xuống xe và đi bộ được khoảng 50m thì gặp tổ công tác của Công an xã S kiểm tra phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy Heroinne thu giữ, Nguyễn Xuân BC khai mua của một người đàn ông không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.
Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 1.260.000 đồng; 01 phong bì kín ký hiệu C bên trong có vỏ phong bì ký hiệu A2, A3; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,398 gam chất ma túy mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1 và 06 mảnh giấy loại lịch lốc một mặt màu trắng, một mặt có nhiều hoa văn khác nhau; 01 phong bì kín ký hiệu Đ bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, viền trắng bên trong điện thoại có gắn 01 thẻ sim; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu T bên trong có 01 ví giả da màu đen.
Cáo trạng số 27/CT- VKSVN ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Xuân BC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Đồng thời tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo từ chối người trợ giúp pháp lý để bào chữa cho mình.
Kết thúc thẩm vấn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Xuân BC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân BC từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
** Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì kín ký hiệu C bên trong có vỏ phong bì ký hiệu A2, A3; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,398 gam chất ma túy mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1 và 06 mảnh giấy loại lịch lốc một mặt màu trắng, một mặt có nhiều hoa văn khác nhau; 01 vỏ phong bì ký hiệu Đ; 01 vỏ phong bì ký hiệu T.
Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, viền trắng cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 860739030047619; IMEI 2: 860739030047601, phần kính mặt của điện thoại có vết nứt kính, bên trong điện thoại gắn 01 thẻ sim; 01 ví giả da màu đen đã cũ đã qua sử dụng và số tiền 1.260.000 đồng.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến bào chữa tranh luận gì.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội phạm:
Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 12/4/2022 tại xóm BH, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Xuân BC – Sinh năm 1973; Trú tại: Xóm KN, xã LH, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,410 gam chất ma tuý, loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã S bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,410 gam Heroine của Nguyễn Xuân BC đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các BC hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…
c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nguyễn Xuân BC theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án thấy: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm vào sự quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Xét nhân thân bị cáo thấy bị cáo sinh ra được gia đình nuôi ăn học hết lớp 6 phổ thông, sau đó ở nhà phụ giúp gia đình, ngày 12/4/2022 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị phát hiện bắt giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án cũng như các yếu tố về nhân thân cùng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi và tội phạm bị cáo phạm phải là nghiêm trọng, gây hệ lụy xấu cho bản thân và xã hội, hành vi của bị cáo bị xã hội lên án. Do vậy, cần lên mức án cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
*Về hình phạt bổ sung: Vì bản thân bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản và gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
*Xét một số vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì kín ký hiệu C bên trong có vỏ phong bì ký hiệu A2, A3; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,398 gam chất ma túy mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1 và 06 mảnh giấy loại lịch lốc một mặt màu trắng, một mặt có nhiều hoa văn khác nhau; 01 vỏ phong bì kín ký hiệu Đ; 01 vỏ phong bì ký hiệu T.
* Xét một số vật chứng là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, không liên quan đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên cần trả cho bị cáo. Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, viền trắng cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 860739030047619; IMEI 2: 860739030047601, phần kính mặt của điện thoại có vết nứt kính, bên trong điện thoại gắn 01 thẻ sim; 01 ví giả da màu đen đã cũ đã qua sử dụng và số tiền 1.260.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo là thành viên trong hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Xét bị cáo thuộc BC hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, do đó cần chấp nhận đơn xin miễn án phí của bị cáo.
Về nguồn gốc heroine thu giữ của Nguyễn Xuân BC, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại xóm Trúc Mai, xã LH, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy không có đủ căn cứ xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện V tại phiên toà hôm nay về tội danh và các vấn đề khác là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân BC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt.
1.1. Về hình phạt chính.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân BC 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo BC trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
1.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì kín ký hiệu C bên trong có vỏ phong bì ký hiệu A2, A3; 01 (một) phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,398 gam chất ma túy mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 (một) phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng, 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu A1 và 06 mảnh giấy loại lịch lốc một mặt màu trắng, một mặt có nhiều hoa văn khác nhau; 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu Đ; 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu T.
2.2. Trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, viền trắng cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 860739030047619; IMEI 2: 860739030047601, phần kính mặt của điện thoại có vết nứt kính, bên trong điện thoại gắn 01 thẻ sim; 01 (một) ví giả da màu đen đã cũ đã qua sử dụng; Số tiền 1.260.000 đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
* Về tình trạng vật chứng: Vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện V theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2022 và Ủy nhiệm chi số 111 ngày 26/7/2022 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
3. Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND; - Công an; - Bị cáo; - Nhà Tạm giữ; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Kim Tuấn |