vanban.org

Bản án 32/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 13/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Văn H. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu và mảnh nilon màu trắng được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MS
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HSST
Ngày 13 tháng 01 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Quốc Quân, ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Đặng Văn H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1976 tại huyện SM, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản HS 2, xã CK, huyện SM, tỉnh Sơn La. Tạm trú: Bản N, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Đặng Văn H1 năm 1954 và bà Đào Thị Kh sinh năm 1960. Bị cáo có vợ Đào Thị M, sinh năm 1974, nơi ĐKHKTT: Bản HS, xã CK, huyện SM, tỉnh Sơn La. Tạm trú: Bản N, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2011

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bị cáo bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La vào các năm 2008, 2013.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 10/9/2021, Đặng Văn H đi cắt tóc thuê ở bản PP, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La thì có một người nam giới đến cắt tóc. H nói với người đó “cắt xong tý cho năm mươi nghìn để mua trắng nhé” (ý nói trả tiền cắt tóc để mua Heroine sử dụng) thì người này nói với H “em không chơi trắng, chỉ chơi Hồng phiến” rồi lấy trong túi quần trước bên phải đang mặc đưa cho H một gói nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến). H cầm lấy cất vào túi quần trước đang mặc rồi cắt tóc tiếp cho người đàn ông. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H nghỉ cắt tóc ở bản PP về nhà ở bản N, xã PC, MS, Sơn La. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày H ra đường xin đi nhờ xe máy của một người nam giới đến nhà Mùa A S (trú tại bản HN, xã PC, MS, Sơn La) thì gặp Sáy cùng Mùa A S (trú tại bản HN, PC) và Phạm Văn C (trú tại bản HS, xã CK, SM, Sơn La) đang ngồi chơi uống nước trên chiếu trải giữa nhà Sáy. H ngồi xuống uống nước với mọi người. Đến khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, H lấy gói ma túy cất giấu ở trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra chiếu để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện MS đang làm nhiệm vụ ở bản HN, xã PC phát hiện. H cầm lấy gói ma túy ném ra phía sau lưng. Tổ công tác thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết luận giám định số 1520 ngày 13/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số vật chứng thu giữ của Đặng Văn H là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,105 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSMS ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 12 đến 16 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy Vỏ phong bì niêm phong ban đầu và mảnh nilon màu trắng được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện MS lập vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 10/9/2021 đối với bị cáo Đặng Văn H cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên hồng phiến khối lượng là 0,105 gam.

Tại bản kết luận giám định số 1520 ngày 13/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “M u gửi giám định ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của m u gửi giám định là 0,105 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,105 gam; loại Methamphetamine”.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã nhận 01 viên hồng phiến thay tiền công cắt tóc của một người đàn ông không biết tên tuổi với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đặng Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét tính chất vụ án:

Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nH bị cáo vẫn cố tình cất giữ ma túy trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị hình phạt và xử lý vật chứng là đảm bảo đúng quy định của pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy lâu năm. Hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận bản thân đã hai lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La vào các năm 2008 và 2013. Bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện vào năm 2020 và có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân dẫn đến việc bị truy tố xét xử. Nên bị cáo sẽ bị áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon mà trắng được niêm phong trong một phong bì do Công an huyện MS phát hành là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai nhận thay tiền công cắt tóc của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại bản PP, xã PC, MS, Sơn La. Việc trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Methamphetamine thu giữ trong vụ án.

Đối với Mùa A S, Mùa A S1 và Phạm Văn C, quá trình điều tra xác định S, S1, C không biết và không liên quan đến việc H cất giấu ma túy nên Cơ quan điều tra Công an huyện MS không đặt vấn đề xử lý đối với Mùa A S1, Mùa A S và Phạm Văn C.

Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Văn H.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu và mảnh nilon màu trắng được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện MS phát hành.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ