- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Đ - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HSST Ngày 13-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Thuận.
2. Ông Triệu Quang Trân.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Trưởng - Kiểm sát viên
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/HSST, ngày 18 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 16/2022/QĐ - ST ngày 10/5/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2022/QĐ - ST ngày 20/5/2022 đối với bị cáo:
Lường Văn Đ; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/10/1978; Nơi sinh: Huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn PL1, xã NP, huyện CĐ, tỉnh Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Lường Văn B (đã chết); Con bà Triệu Thị N(đã chết); Bị cáo có vợ là Hứa Thị H, bị cáo có 02 con; Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 13/7/2021, Lường Văn Đ đã bị Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, vận chuyển lâm sản trái pháp luật bằng hình thức phạt số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), cùng ngày Đ đã nộp đầy đủ số tiền bị xử phạt trên; Tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Địa chỉ: Thôn KT, xã QH, huyện BT, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 17/02/2022, Lường Văn Đ điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát 99K-8727 (là xe ô tô Đ mượn của anh Nguyễn Văn C) đi từ thành phố BK lên khu vực xã CH và xã MP, huyện BB, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua gỗ về bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực xã CH, Đ thấy có nhiều gỗ Bồ Đề và gỗ tạp là loại gỗ thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII để ở ven đường nên đã hỏi người dân để mua. Tại khu vực ven đường thuộc địa phận xã CH, huyện BB, Đ đã mua gom của một số người dân không quen biết được 216 (hai trăm mười sáu) khúc gỗ tròn loài thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, tổng khối lượng 5,518m3 (Năm phẩy năm một tám mét khối) với tổng số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), toàn bộ số gỗ Đ mua đều không có hồ sơ nguồn gốc lâm sản theo quy định. Sau khi mua gỗ, Đ nhờ những người đã bán gỗ cho mình bốc gỗ lên xe rồi điều khiển xe về thành phố BK, Đ đỗ xe ô tô ở ven đường rồi ngủ qua đêm trên xe. Đến khoảng 05 giờ ngày 18/02/2022, Đ tiếp tục điều khiển xe ô tô theo đường Quốc lộ 3 với ý định chở gỗ về thành phố TN tìm nơi để bán kiếm lời. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe ô tô đến địa phận tổ 7, thị trấn ĐT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn thì bị lực lượng Công an huyện CM phối hợp với Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 2 thuộc Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn kiểm tra phát hiện toàn bộ số gỗ trên. Thời điểm kiểm tra, Đ không xuất trình được hồ sơ nguồn gốc lâm sản nên Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong, tạm giữ xe ô tô cùng toàn bộ số gỗ vận chuyển trái phép trên xe để xử lý theo quy định.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTSTTTHS ngày 05/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện CM kết luận: Giá trị tài sản của 216 khúc gỗ tròn loại thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, khối lượng 5,518m3 là 2.720.000 đồng (Hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lường Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình về thời gian, địa điểm Đ mua gỗ và sử dụng xe ô tô tải BKS 99K-8727 để vận chuyển số gỗ trên nhằm mục đích để bán kiếm lời. Chỉ một mình Đ thực hiện hành vi vận chuyển trái phép số gỗ trên, không có ai giúp sức cho Đ thực hiện hành vi. Số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) Đ sử dụng để mua gỗ là số tiền riêng của Đ, do lao động mà có, không có ai góp chung với Đ để mua số gỗ trên.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu sơn trắng, loại xe tải mui phủ, đã qua sử dụng mang BKS 99K-8727, bên trong thùng xe được niêm phong 216 khúc gỗ tròn loài thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, khối lượng 5,518m3 (Năm phẩy năm một tám mét khối).
+ 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô số 003920, tên chủ xe: Trương Văn T, địa chỉ: CG, YP, YP, Bắc Ninh, BKS 99K-8727.
Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
* Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 15/CT - VKSCM ngày 16/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Tuyên bố bị cáo Lường Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Xử phạt: Bị cáo Lường Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù .
Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu, hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 216 khúc gỗ tròn loài thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, khối lượng 5,518m3 (Năm phẩy năm một tám mét khối).
+ Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu sơn trắng, loại xe tải mui phủ, đã qua sử dụng mang BKS 99K-8727; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô số 003920, tên chủ xe: Trương Văn T, địa chỉ: CG, YP, YP, Bắc Ninh, BKS 99K-8727.
- Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C không yêu cầu bị cáo hay ai phải bồi thường về việc chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu sơn trắng, loại xe tải mui phủ, đã qua sử dụng mang BKS 99K-8727 bị tạm giữ nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lường Văn Đ nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CM, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà, bị cáo Lường Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18/02/2022, tại tổ 7, thị trấn Đồng Tâm, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, Công an huyện CM phối hợp Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 2 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn đã kiểm tra, phát hiện Lường Văn Đ có hành vi vận chuyển trái phép 216 khúc gỗ tròn loài thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, tổng khối lượng là 5,518m3 (Năm phẩy năm một tám mét khối).
Trước đó, vào ngày 13/7/2021, Đ đã bị Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép lâm sản với số tiền là 40.000.000 đồng, đến thời điểm thực hiện hành vi vận chuyển 5,518m3 thì Đ không được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, ...
...
m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm 1 khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
...
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Cáo trạng số 15/CT - VKSCM ngày 16/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; Bị cáo có bố là ông Lường Văn B được Chủ tịch nước tặng thưởng "Huy chương chiến sỹ vẻ vang". Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, ổn định, quá trình sinh sống tại địa phương chưa có tiền án, trước khi phạm tội thì bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú, quy ước, hương ước của thôn bản và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Mặc dù bị cáo có 01 tiền sự về hành vi vận chuyển trái phép lâm sản, tuy nhiên tiền sự này được sử dụng là yếu tố cấu thành tội phạm lần này của bị cáo. Bên cạnh đó, khối lượng lâm sản bị cáo vận chuyển là rất nhỏ so với định lượng cấu thành tội phạm theo quy định từ điểm a đến điểm l của Điều luật. Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022, có hiệu lực từ ngày 10/5/2022 của Hội Đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì trường hợp này có thể cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, đề nghị Hội Đồng xét xử áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Xử phạt: Bị cáo Lường Văn Đ 06 đến 09 tháng tù. Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với đề nghị về điều luật áp dụng, đề nghị của Kiểm sát viên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" là bất lợi cho bị cáo. Trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 18/02/2022 thì bị cáo chưa bị Tòa án kết án về bất cứ hành vi gì. Vì vậy, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt là xử phạt bị cáo ở mức từ 06 đến 09 tháng tù là phù hợp, cần chấp nhận. Tuy nhiên, Kiểm sát viên đề nghị không cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị này chưa phù hợp vì bị cáo có đầy đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Hơn nữa, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có 02 con đang đi học, cuộc sống của gia đình bị cáo phụ thuộc vào thu nhập từ sức lao động của bị cáo là chính. Nếu bị cáo phải đi chấp hành án phạt tù thì cuộc sống gia đình vợ con bị cáo sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy mục đích phạm tội của bị cáo là thu lời bất chính, gia đình bị cáo không thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng trong vụ án: Đối với 216 khúc gỗ tròn loài thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, khối lượng 5,518m3 (Năm phẩy năm một tám mét khối) không rõ nguồn gốc mà bị cáo Đ vận chuyển trái phép. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, hóa giá, sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu sơn trắng, loại xe tải mui phủ, đã qua sử dụng mang BKS 99K-8727; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô số 003920, tên chủ xe: Trương Văn T, địa chỉ: CG, YP, YP, Bắc Ninh, BKS 99K-8727. Đây là tài sản của anh Nguyễn Văn C, khi cho Đ mượn, anh C không biết Đ dùng xe vào mục đích vận chuyển gỗ trái phép. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại tài sản này cho anh Cương là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo hay ai phải bồi thường bất cứ khoản gì về việc chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu sơn trắng, loại xe tải mui phủ, đã qua sử dụng mang BKS 99K-8727 bị tạm giữ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn C là người chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai, BKS 99K-8727 mà Đ sử dụng để vận chuyển lâm sản trái phép vào ngày 18/02/2022. Khi Đ mượn xe thì anh Cương không biết Đ sử dụng xe để chở lâm sản trái phép nên không có cơ sở để xem xét xử lý đối với anh C, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong vụ án này còn có một số người ở hai xã CH và MP huyện BB, tỉnh Bắc Kạn đã bán gỗ cho Đ. Tuy nhiên Đ không quen biết, không biết danh tính, địa chỉ của những người này nên không xác định được đối tượng. Do vậy, không có cơ sở để xem xét, xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
2. Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lường Văn Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã NP, huyện CĐ, tỉnh Bắc Kạn nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 232/BLHS. Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 216 khúc gỗ tròn loài thông thường từ nhóm VI đến nhóm VIII, khối lượng 5,518m3 (Năm phẩy năm một tám mét khối).
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu sơn trắng, loại xe tải mui phủ, đã qua sử dụng mang BKS 99K-8727; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô số 003920, tên chủ xe: Trương Văn T, địa chỉ: CG, YP, YP, Bắc Ninh, BKS 99K-8727.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 06 tháng 5 năm 2022 giữa Công an huyện CM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Lường Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện CM; - Công an huyện CM; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Người có QL&NVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |