vanban.org

Bản án 32/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2021. xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu 24 /KL-PC09-MT bên trong có chứa số Heroine còn lại sau giám định gồm M1= 0,0589gam, M2 = 0,0720 gam, M3= 0,0528 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phon… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HS- ST
Ngày: 27/04/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Phương và bà Trần Thị Lệ Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2022/TLST-HS ngày 25/04/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST-HS ngày 14/04/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh năm: 1977 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi ĐKHKTT và cư trú hiện nay: xóm 12, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

Bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1949 (đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị L1, sinh năm 1957, hiện trú tại xóm 12, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Gia đình có 07 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Vũ Thị H; sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2015); Con: có 01 con sinh năm 2010.

Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 06/01/2021, UBND xã Đ, huyện K ra Quyết định số 02/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng.

Lịch sử bản thân:

+ Ngày 10/6/2013 bị UBND huyện K ra Quyết định số 1893/QĐ-CT áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.

+ Ngày 25/6/2020 bị Công an xã Đ, huyện K ra Quyết định số 05/QĐ-XPHC xử phạt hành chính bằng hình thức “cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

+ Ngày 08/01/2021 Công an xã Đ, huyện K ra Quyết định số 27/QĐ-XPVPHC xử phạt hành chính “cảnh cáo” về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2021 đến ngày 22/12/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị L1, sinh năm 1957; địa chỉ: xóm 12, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Phạm Văn L2, anh Ninh Thành H1 ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2021tại đường trục liên xã thuộc xóm 3, xã K, huyện K Tổ công tác Công an huyện K cùng Công an xã K kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Văn L đang cầm 03 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ; L khai nhận là hê rô in mua về để sử dụng; Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với L, thu giữ và niêm phong 03 gói nhỏ gói, tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu ESPRRO màu xanh, BKS 35AK-008.55.

Kiểm tra các gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn L bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, cân xác định khối lượng gói thứ nhất 0,1 gam ký hiệu M1; gói thứ hai 0,12 gam ký hiệu M2; gói thứ ba 0,07gam ký hiệu M3 gửi trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 24/KLGĐ-PC09-MT ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0981gam; ký hiệu M2 có khối lượng 0,1142gam; ký hiệu M3 có khối lượng 0,0802 gam, tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong các mẫu M1, M2, M3 là 0,2925gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 đều là ma túy, loại Heroine”.

Tại cơ quan điều tra L khai nhận do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 14 giờ ngày 14/12/2021, L điều khiển xe gắn máy BKS 35AK-008.55 đi một mình từ nhà đến khu vực cầu “Thống Nhất” thuộc xóm 3, xã K, huyện K. Tại đây, L gặp và mua được 03 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ với giá 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau đó, L điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến đường trục liên xã thuộc xóm 3, xã K, huyện K thấy vắng người L dừng xe định đem ma túy ra kiểm tra thì bị Tổ công tác Công an huyện K cùng Công an xã K phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên tay trái của L 03 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ; tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu ESPRRO màu xanh, BKS 35AK-008.55.

Quá tình điều tra công an huyện K đã trả lại 01 xe máy nhãn hiệu ESPRRO màu xanh, BKS 35AK-008.55 cho bà Trần Thị L1. Chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K: 01 phong bì niêm phong ký hiệu 24 /KL-PC09-MT bên trong có chứa số Heroine còn lại sau giám định gồm M1= 0,0589gam, M2 = 0,0720 gam, M3= 0,0528 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi trưng cầu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và vỏ gói nhỏ giấy màu trắng.

Tại cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 23/03/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2021.

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 và Điều 136 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 326/UBTVQH14:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu 24 /KL-PC09-MT bên trong có chứa số Heroine còn lại sau giám định gồm M1= 0,0589gam, M2 = 0,0720 gam, M3= 0,0528 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi trưng cầu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và vỏ gói nhỏ giấy màu trắng.

+ Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dungvụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận: là người sử dụng trái phép chất ma túy, để có ma túy sử dụng, khoảng 14 giờ ngày 14/12/2021, L điều khiển xe gắn máy BKS 35AK-008.55 đi một mình từ nhà đến khu vực cầu “Thống Nhất” thuộc xóm 3, xã K, huyện K. Tại đây, L gặp và mua được 03 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ với giá 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau đó, L điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến đường trục liên xã thuộc xóm 3, xã K, huyện K thấy vắng người L dừng xe định đem ma túy ra kiểm tra thì bị Tổ công tác Công an huyện K cùng Công an xã K phát hiện, bắt quả tang

Lời khai của bị cáo còn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2021, lời khai của người làm chứng và vật chứng thu giữ được là 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,2925 gam.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2021, tại khu vực xóm 3, xã K, huyện K, bị cáo Nguyễn Văn L có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,2925 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Nguyễn Văn L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

….

c. Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo L về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng tính chất mức độ phạm tội.

Về hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm về các tệ nạn xã hội khác; hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.

Bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về nguồn gốc Heroine: Nguyễn Văn L khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu “Thống Nhất” thuộc xóm 3, xã K, huyện K. Bản thân L không biết tên tuổi địa chỉ của người này, nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Do vậy Cơ quan CSĐT - Công an huyện K chưa đủ căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPRRO màu xanh, BKS 35AK-008.55 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là bà Trần Thị L1 (mẹ đẻ của L) bà L1 cho L mượn xe nhưng không biết L sử dụng để đi mua Heroine nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại xe cho bà L1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với: 01 phong bì niêm phong ký hiệu 24 /KL-PC09-MT bên trong có chứa số Heroine còn lại sau giám định gồm M1= 0,0589gam, M2 = 0,0720 gam, M3= 0,0528 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi trưng cầu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và vỏ gói nhỏ giấy màu trắng. Đây là những vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bi cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2021.

3. xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu 24 /KL-PC09-MT bên trong có chứa số Heroine còn lại sau giám định gồm M1= 0,0589gam, M2 = 0,0720 gam, M3= 0,0528 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi trưng cầu giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu và vỏ gói nhỏ giấy màu trắng.

( chi tiết như trong biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện K vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 23/03/2022)

4. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ