vanban.org

Bản án 32/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 04/01/2022. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định theo phong bì niêm phong số 339/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HS-ST
Ngày 25/4/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hữu Quang.

Ông Lê Doãn Giới.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với:

Bị cáo Nguyễn Hữu Đ; sinh ngày 25/01/1996 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Phố …, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Phố …, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Hoàng Thị T; vợ, con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2022. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11h30’ ngày 04/01/2022 Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã Hoằng Phú đang làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Hữu Đ đi xe Wave RSX biển số 36B8-298… đang dừng ở điểm đón trả khách đi xe Buýt ở lề đường phía Tây Quốc lộ 1A, phía Bắc nhà hàng Sạch thuộc thôn P, xã P có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ trong giữa ốp nhựa và điện thoại di động của Đ đang cầm trên tay trái 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh kích thước 2x2cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Raolme; 01 ốp nhựa; tạm giữ 01 xe môtô biển số 36B8-298...

Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp số 03/CSĐT ngày 04/01/2022 khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu Đ ở phố …, phường T, thành phố T thu giữ dưới đệm, trên chiếu trúc giường ngủ của Đ 05 túi nilon có viền màu xanh, 01 túi nilon có viền màu đỏ, kích thước mỗi túi 2x2 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng niêm phong ký hiệu M2 trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 339/PC09 ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,331g loại: Methamphetamine; các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,712g loại: Methamphetamine. Tổng số ma túy thu giữ là 2,043g loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Hữu Đ là người nghiện chất ma túy, vào khoảng 9h30’ ngày 04/01/2022 Đ đi xe môtô biển số 36B8-298… lên khu vực cầu B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa gặp 01 người đàn ông đứng ở chân cầu, Đ không rõ tên tuổi, địa chỉ hỏi mua 1.700.000 đồng được 07 túi ma túy mang về nhà ở phố …, phường T, thành phố T cất dấu 06 túi dưới đệm trên giường ngủ, lấy 01 túi bỏ vào ốp nhựa điện thoại mang theo lên xã Q, huyện H đi công việc để sử dụng; đến khoảng 11h30’ cùng ngày Đ đi đến khu vực điểm dừng đỗ xe buýt thuộc địa phận xã P, huyện H thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ số ma túy trên.

Vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Raolme; 01 ốp nhựa; 01 xe môtô biển số 36B8-298… và số ma túy còn lại sau khi giám định theo biên bản giao nhận ngày 07/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa để chờ xét xử.

Cáo trạng số 32/CT-VKSHH-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 9h30’ ngày 04/01/2022, Nguyễn Hữu Đ lên khu vực cầu B, thành phố T mua 1.700.000 đồng được 07 túi ma túy của một người đàn ông đứng ở chân cầu, không rõ tên tuổi, địa chỉ mang về nhà ở phố …, phường T, thành phố T cất dấu 06 túi dưới đệm trên giường ngủ, lấy 01 túi bỏ vào ốp nhựa điện thoại mang theo lên xã Q, huyện H đi công việc để sử dụng; đến khoảng 11h30’cùng ngày Đ đi đến khu vực điểm dừng đỗ xe buýt thuộc địa phận xã P thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên; sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo; vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Raolme và 01 ốp nhựa; trả lại 01 xe môtô biển số 36B8-298… cho bị cáo và buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét do bị cáo không hiểu biết nên đã mua ma túy về sử dụng, mục đích là để chữa bệnh rụng tóc, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo bố đã chết, mẹ ốm đau, là lao động chính trong gia đình xin cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để được sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Ngày 04/01/2022, Nguyễn Hữu Đ lên khu vực cầu B, thành phố T mua 07 túi ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ mang về nhà ở cất dấu với mục đích sử dụng; Đ lấy 01 túi bỏ vào ốp nhựa điện thoại mang theo lên xã Q, huyện H đi công việc để sử dụng; đến khoảng 11h30’cùng ngày Đ đi đến khu vực điểm dừng đỗ xe buýt thuộc địa phận xã P thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng. Khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ 06 túi dưới đệm trên giường ngủ; toàn bộ số vật chứng đã được cơ quan điều tra niêm phong gửi giám định; Kết luận giám định số 339/PC09 ngày 07/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,331g loại: Methamphetamine; các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,712g loại: Methamphetamine.

Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu Đg đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội, do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Do đó áp dụng quy định của điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Trong vụ án này theo lời khai của bị cáo có mua ma túy của một người đàn ông, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ người đàn ông đó nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, thời gian qua do dịch bệnh Covid 19 không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[7] Vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Raolme và 01 ốp nhựa bị cáo dùng để cất dấu ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 xe môtô đây là xe mẹ bị cáo mua cho bị cáo, biển số 36B8-298..., số máy JA52E0277…, số khung RLHJA385XMY123…, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại, không phải là nơi để bị cáo cất dấu ma túy, không liên quan đến tội phạm nên tuyên trả lại cho bị cáo.

[8] Án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 04/01/2022.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định theo phong bì niêm phong số 339/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Raolme và 01 ốp nhựa;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 xe môtô biển kiểm soát 36B8-298…, số máy JA52E0277…, số khung RLHJA385XMY123….

(Toàn bộ số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng số 36/BBGN ngày 20/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ