- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Đ - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội "Hủy hoại rừng"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HS - ST Ngày 16/8/2022 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Điền và bà Lục Thị Xinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
NÔNG VĂN Đ - Tên gọi khác: Không, sinh ngày 07 tháng 03 năm 1977. Tại huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Ẩ và con bà Hoàng Thị P; vợ: Dương Thị S, con: có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn Đ: Bà Hoàng Thị Thu H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lục Văn C – Chức vụ: Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Theo văn bản số 679/UBND – NN&PTNT ngày 13/4/2022 của UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn). Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Văn H, sinh năm 1967
Địa chỉ: Trú tại thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Chị Dương Thị S, sinh năm 1979
Địa chỉ: Trú tại Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/7/2021, Trạm kiểm lâm Bình Trung thuộc Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn phối hợp với UBND xã B tiến hành kiểm tra, phát hiện một phần diện tích rừng tại lô 5, khoảnh 3, tiểu khu 333 khu rừng thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn do hộ gia đình ông Nông Văn Đ được Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn giao khoán, bảo vệ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 456500 ngày 06/01/2009 bị phát phá trái phép toàn bộ các cây tự nhiên. Qua đo đạc sơ bộ ban đầu xác định được tổng diện tích rừng bị phát phá là 9.550m2 thuộc quy hoạch rừng sản xuất, trạng thái rừng vầu tự nhiên núi đất VAU. Qua xác minh ban đầu do ông Nông Văn Đ chủ rừng phát phá trái phép vào khoảng tháng 4 năm 2021, với mục đích lấy mặt bằng để trồng cây mỡ.
Ngày 16/12/2021, Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã tiến hành bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn để tiến hành điều tra theo quy định.
Ngày 30/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và những người có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả sử dụng máy định vị toàn cầu (GPS- MAP 78) để đo đạc, thống kê thì xác định tổng diện tích rừng bị phát phá trái phép tại lô 05, khoảnh 3 và lô 16, khoảnh 01 thuộc tiểu khu 333 khu rừng thuộc Thôn V, xã B, huyện C là 8.787m2 (Trong đó, diện tích bị phát phá tại lô 05 là 8.664m2, lô 16 là 123m2). Tổng số gốc cây tự nhiên bị chặt phá nằm rải rác tại hiện trường qua kiểm đếm xác định được là 08 gốc cây và 12 khúc gỗ tròn có tổng khối lượng là 1,432m2 nhóm V đến VIII và qua điều tra ô tiêu chuẩn xác định số cây vầu bị chặt phá là 4.182 cây. Trên diện tích bị phát phá đã trồng mới loại cây mỡ và cây bồ đề chiều cao trung bình khoảng 01m đến 01,20m. Đối chiếu với bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và Quyết định số 278/QĐ-UBND ngày 08/02/2021 của UBND huyện Chợ Đồn về công bố hiện trạng rừng năm 2020 trên địa bàn huyện Chợ Đồn thì phần diện tích rừng bị phá tại lô 05, khoảnh 3 và lô 16, khoảnh 01 thuộc tiểu khu 333 được quy hoạch là rừng sản xuất, trạng thái rừng vầu tự nhiên núi đất VAU và rừng tre nữa khác tự nhiên núi đất TNK.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn kết luận: 12 khúc gỗ tròn nhóm V, VI, VII, VIII có khối lượng 1,432m3 trị giá tại thời điểm tháng 4 năm 2021 là 522.680đ (Năm trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm tám mươi đồng); 4.182 cây vầu trị giá tại thời điểm tháng 4 năm 2021 là 10.807.200đ (Mười triệu tám trăm linh bảy nghìn hai trăm đồng). Trong đó 966 cây có đường kính từ 3cm- 5cm trị giá 1.159.200đ (Một triệu một trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng), 3.216 cây có đường kính 6cm - 8cm trị giá 9.648.000đ (Chín triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản sau khi định giá 11.329.880đ (Mười một triệu ba trăm hai mươi chín nghìn tám trăm tám mươi đồng).
Quá trình điều tra, truy tố Nông Văn Đ khai nhận: Phần diện tích rừng 8.787m2 là do Đ phát phá, diện tích rừng trên là của gia đình Đ được UBND huyện Chợ Đồn giao cho để quản lý và sử dụng với tổng diện tích là 198.559m2, loại rừng sản xuất. Cụ thể: Khoảng tháng 4 năm 2021, Đ một mình đi vào khu rừng của gia đình rồi dùng dao chặt hạ các cây vầu, giang, nứa và các cây rừng tự nhiên có nhiều kích thước và chủng loại khác nhau nhằm mục đích lấy mặt bằng để trồng cây. Sau khi phát phá xong toàn bộ cây rừng tự nhiên, đến khoảng tháng 5 năm 2021, Đ quay vào dọn, đốt toàn bộ các cây rừng tự nhiên mà Đ đã chặt phát, sau đó Đ trồng cây mỡ, cây bồ đề thay thế trên toàn bộ diện tích rừng tự nhiên mà Đ đã phát phá. Ngày 30/12/2021, Cơ quan CSĐT tiến hành khám nghiệm hiện trường về việc phát phá rừng trái phép thì Đ mới biết một phần diện tích rừng mà Đ đã phát là của gia đình ông Dương Văn H.
Ông Dương Văn H khai nhận: Gia đình ông được UBND huyện Chợ Đồn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô 16, khoảnh 1, tiểu khu 333 vào năm 2009 địa chỉ thửa đất thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, loại rừng sản xuất. Lô rừng trên của ông và lô rừng của ông Đ có vị trí tiếp giáp nhau, từ trước tới nay hai bên đã thống nhất ranh giới trên thực địa và không xảy ra tranh chấp, khiếu kiện gì. Phần diện tích mà Đ phát lấn sang đất của ông từ trước tới nay do gia đình Đ quản lý, sử dụng. Ông H không nắm rõ phần diện tích bị Đ phát phá trên là phần đất của ông được Nhà nước cấp quyền sử dụng.
Tại bản cáo trạng số: 32/CT- VKSCĐ ngày 15/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nông Văn Đ về tội: "Hủy hoại rừng" theo điểm b Khoản 1 điều 243 của Bộ luật Hình sự.
Điều 243 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.....
b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);
...
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Đ phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 38; Điều 65; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Định.
Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nông Văn Đ phải bồi thường thiệt hại số tiền 10.807.200đ (Mười triệu tám trăm linh bảy nghìn hai trăm đồng) cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 của Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, chiều dài 40cm, chiều rộng 04cm, chuôi bằng gỗ dài 20cm mà bị cáo Đ.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đ được miễn nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Tại bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa cho bị cáo cho rằng việc truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra. Do đó, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, lý do bị cáo kinh tế còn khó khăn và miễn án phí hình sự và án phí dân sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do có nhu cầu lấy đất canh tác (Trồng rừng) nên vào khoảng tháng 4 năm 2021 bị cáo Nông Văn Đ đã có hành vi dùng dao phát phá trái phép 8.787m2 quy hoạch là rừng sản xuất, trạng thái rừng vầu tự nhiên núi đất VAU và rừng tre nứa khác tự nhiên núi đất TNK. Gây thiệt hại 12 khúc gỗ tròn nhóm V, VI, VII, VIII có khối lượng 1,432m3 trị giá 522.680đ (Năm trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm tám mươi đồng) và 4.182 cây vầu trị giá 10.807.200đ (Mười triệu tám trăm linh bảy nghìn hai trăm đồng) tại lô 05, khoảnh 3 và lô 16, khoảnh 01 đều thuộc tiểu khu 333 khu rừng thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả đo đạc diện tích do bị cáo bị hủy hoại, vật chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết mình chưa được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép cải tạo rừng tự nhiên sản xuất để trồng rừng mới nhưng bị cáo vẫn cố ý tự mình phát rừng tự nhiên để trồng rừng mới. Hội đồng xét xử xét có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Nông Văn Đ về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, xâm phạm đến sự bền vững và ổn định môi trường, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tại địa phương, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51/BLHS đó là “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Tại phiên tòa đại diện cho UBND huyện Chợ Đồn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - đây được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thường trú rõ ràng, thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65/BLHS vẫn có thể cải tạo giáo dục bị cáo.
Đối với bà Dương Thị S là người cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với bị cáo Nông Văn Đ. Quá trình điều tra xác định S không biết việc Đ phát phá trái phép diện tích rừng trên nên cơ quan CSĐT không xem xét xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã cử ông Lục Văn C - Phó Trưởng phòng NN và PTNT huyện đại diện tham gia tố tụng đã có đơn đề nghị xử lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo Đ bồi thường số tiền 10.807.200đ (Mười triệu tám trăm linh bảy nghìn hai trăm đồng) là tiền giá trị 4.182 cây vầu bị chặt phá theo kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn; Không yêu cầu bồi thường 12 khúc gỗ tròn nhóm V, VI, VII, VIII có khối lượng 1,432m3 trị giá 522.680đ (Năm trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm tám mươi đồng). Hội đồng xét xử xét yêu cầu này là đúng pháp luật, nên được chấp nhận.
Ông Dương Văn H không có yêu cầu đề nghị bị cáo Đ bồi thường đối với phần diện tích mà Đ phát phá lấn sang, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Xét về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, chiều dài 40cm, chiều rộng 04cm, chuôi bằng gỗ dài 20cm mà bị cáo Đ.
Đối với 12 khúc gỗ tròn nhóm V, VI, VII, VIII có khối lượng 1,432m3 còn lại tại hiện trường, ngày 20/6/2022, UBND huyện Chợ Đồn phối hợp với các cơ quan chức năng và những người có liên quan tiến hành kiểm tra lâm sản tại thực địa. Qua kiểm tra xác định các khúc gỗ trên đã bị mục nát, không còn giá trị sử dụng nên không tiến hành vận chuyển số gỗ trên về mà để lại tại hiện trường cho tự phân hủy; đối với 4.182 cây vầu bị chặt phá trên diện tích rừng mà Nông Văn Đ phát phá trái phép do đã bị Đ đốt dọn để lấy mặt bằng trồng cây nên quá trình điều tra không thu hồi được - Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Xét về án phí: Bị cáo Đ là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí án phí - nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận. Xét bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy nội dung của bản luận cứ của người bào chữa phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội "Hủy hoại rừng"
[1]. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nông Văn Đ cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Định.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nông Văn Đ phải bồi thường thiệt hại số tiền 10.807.200đ (Mười triệu tám trăm linh bảy nghìn hai trăm đồng) cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 của Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự.
Xác nhận người đại diện theo ủy quyền cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn không yêu cầu bị cáo Nông Văn Đ bồi thường số tiền 522.680đ (Năm trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm tám mươi đồng).
[3]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, chiều dài 40cm, chiều rộng 04cm, chuôi bằng gỗ dài 20cm mà Nông Văn Đ sử dụng để phát phá diện tích rừng trên.
(Số lượng, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chợ Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn).
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đ được miễn nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Đồn - VKSND tỉnh Bắc Kạn - CA huyện Chợ Đồn - THADS huyện Chợ Đồn - TA Tỉnh Bắc Kạn: - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn - Nguyên đơn dân sự; - Bị cáo; - Người có QL&NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án ; THAHS | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Đặng Đình Hưng |