- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST Ngày 15-9-2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Lẫy
Bà Hoàng Thị Chính
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đô – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 379/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, địa chỉ: Tổ L 1, phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Đặng Thế A, địa chỉ: Tổ L 1, phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 3 năm 2022, các bản tự khai nguyên đơn là chị Trần Thị P trình bày: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A có làm thủ tục kết hôn ngày 19/9/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Nam Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Trước khi kết hôn chị P và anh Thế A được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn chị P và anh Thế A chung sống tại Tổ L 1, phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và xẩy ra xô sát, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Chị P xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Thế A. Về con chung: Chị P và anh Thế A không có con chung nên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng khi ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Kiến An đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh Đặng Thế A đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh Thế A, không tiến hành hòa giải được và anh Thế A cũng không có văn bản thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Thế A vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Biên bản xác minh tại địa phương nơi anh Thế A sinh sống thể hiện: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A sinh sống tại tổ L 1, phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; chị P và anh Thế A không có con chung; địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa chị P và anh Thế A và tài sản chung của chị P và anh Thế A; hiện nay anh Đặng Thế A vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại Tổ L 1, phường N, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Về cơ bản đã thực hiện đúng trình tự tố tụng; nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị P được ly hôn anh Thế A. Về con chung, tài sản chung: Không giải quyết. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 21 tháng 4 năm 2022 chị Trần Thị P nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Kiến An, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Thế A; anh Đặng Thế A là bị đơn, trú tại phường Nam Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An.
Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Kiến An đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự đối với nguyên đơn là chị Trần Thị P và bị đơn là anh Đặng Thế A. Tại phiên tòa, chị Trần Thị P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đặng Thế A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A.
Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Nam Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2016 ngày 19 tháng 9 năm 2016. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A trong thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị P và anh Thế A hiện đã sống ly thân; trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Thế A để giải quyết việc chị P có đơn xin ly hôn và tiến hành hòa giải nhưng anh Thế A đều vắng mặt không có lý do, chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị P được ly hôn anh Thế A. Chứng tỏ hai bên cùng không có ý thức hàn gắn đoàn tụ, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho Phượng được ly hôn anh Thế A. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp thực tế vụ kiện và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A không có con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì chị Trần Thị P phải nộp án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A.
- Về con chung: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A không có con chung nên không xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau khi ly hôn chị Trần Thị P, anh Đặng Thế A có yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị Trần Thị P phải nộp tiền án phí dân sự ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị P đã nộp là 300.000 đồng (ban trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003847 ngày 25/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; chị Trần Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Trần Thị P và anh Đặng Thế A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND quận Kiến An; - Chi cục THADS quận Kiến An; - UBND Phường Nam Sơn, quận Kiến An, TP Hải Phòng; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Chính Vũ Văn Lẫy CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Chính Nguyễn Công Biên Nguyễn Thị Lan Hương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Lan Hương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |