- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị T xin được ly hôn với anh Trần Thanh C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST Ngày 14 - 6 - 2022. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Trung Chiến.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Viết Cẩm
Ông Tôn Thất Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thanh Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 365/2021/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021, về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2000
Trú tại: số 7, đường T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Anh Trần Thanh C, sinh năm 1997
Trú tại: số 1, tổ 5, ấp B, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(chị T anh C vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh Trần Thanh C tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được UBND xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 120 ngày 13/12/2018.
Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng lẫn nhau và xảy ra mâu thuẫn trầm trọng anh C đánh đập chị và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị xin được ly hôn với anh C.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Trần Thị Hồng N, sinh ngày 20/5/2020, khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng cháu N và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Thanh C không có lời khai tại tòa:
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Thanh C.
Về con chung: Giao con chung tên là Trần Thị Hồng N, sinh ngày 20/5/2020 cho chị T nuôi dưỡng, anh C phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa giải quyết và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật. buộc anh C phải nộp án phí về cấp dưỡng nuôi con
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự:
1.1. Căn cứ Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
1.2. Anh Trần Thanh C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Chị T có đơn xin vắng mặt khi xét xử. Căn cứ khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh C.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Thanh C là hợp pháp vì hai bên tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định, nên được pháp luật bảo vệ.
2.2. Yêu cầu của chị T xin được ly hôn với anh C. Vì chị T cho rằng cuộc sống của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến gia đình mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh, chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ được, nên cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với anh Trần Thanh C Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do, được coi như anh C tự tước bỏ quyền trình bày tại tòa.
2.3. Về con chung: Có 01 con chung tên là Trần Thị Hồng N, sinh ngày 20/5/2020, hiện tại cháu N đang sống với chị, do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng cháu N. Xét thấy yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị T là có cơ sở vì hiện tại cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi nên chị yêu cầu được nuôi dưỡng là có cơ sở để chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng, anh C không có lời khai tại tòa nên không biết ý kiến của anh C như thế nào. Do vậy căn cứ theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ nên anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật. Nay chị T yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng là tương đương với mức lương cơ bản, nên có cơ sở chấp nhận. Vì vậy buộc anh C phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời gian bắt đầu từ tháng 6/2022 cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.
2.4. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.5. Nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào phần tạm ứng án phí đã nộp, chị T đã nộp đủ. Buộc anh C phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147; khoản 1, điểm b, khoản 2, Điều 227; 269; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Thanh C.
2. Về con chung:
- Giao cháu Trần Thị Hồng N, sinh ngày 20/5/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
- Anh C phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con bắt đầu từ tháng 7/2022 đến khi cháu N tròn 18 tuổi và có khả năng lao động
- Anh Trần Thanh C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi, theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003905 ngày 13/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Chị T đã nộp đủ.
Buộc anh C phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
6. Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Thanh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - UBND xã Phú Lý; - Chi cục THADS H Vĩnh Cửu; - Lưu: Hồ sơ, Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Trung Chiến |