- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn Đinh Thị L; Lê Hồng Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đinh Thị L đối với anh Lê Hồng Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HNGĐ - ST Ngày: 15 – 9 - 2022 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Lợi
2. Ông Đinh Xuân Phầu
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Hiền– Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15tháng 9năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2022/TLST - HNGĐ ngày 06/5/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐST- DS ngày 18/8/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2022/QĐHPT - DSST ngày 31/8/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị L, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: Tiểu khu Đồng V, thị trấn Đồng L, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình
Tạm trú: Thôn Kim L, xã Kim H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lê Hồng Th, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Tiểu khu Đồng V, thị trấn Đồng L, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 25/4/2022và bản tự khai ngày 01/6/2022 chị Đinh Thị L trình bày: Tôi (Đinh Thị L) và anh Lê Hồng Th tìm hiểu vàđi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Kim H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình vào ngày 04/12/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà nội bố mẹ anh Thành thuộc tiểu khu Đồng V, thị trấn Đồng L, huyện Tuyên H tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Th thường xuyên đánh đập chị L, mặc dù đã được gia đình hai bên can ngăn nhưng vẫn không khắc phục được. Vợ chồng sống ly thân chị L đi vào Sài gòn làm ăn, hai bên bỏ mặc không quan tâm đến nhau nữa từ năm 2018 cho đến nay. Hiện tại chị L thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên chị Đinh Thị L làm đơn xin ly hôn anh Lê Hồng Th.
Về con chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị L khai vợ chồng có hai đứa con chung tên là Lê Nữ Thùy Trg, sinh ngày: 09/01/2006 và Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 hiện hai đứa con đang sống cùng chị Lợi. Sau khi ly hôn chị Lợi có nguyện vọng xin được nuôi cả hai đứa con và yêu cầu anh Lê Hồng Th phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành.
Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị L khai để hai vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị Đinh Thị L đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0000083 ngày 05/5/2022 nay xin chịu toàn bộ.
Tòa án nhân dân huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Đinh Thị L tiến hành triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng chỉ có mặt chị Đinh Thị L còn anh Lê Hồng Th vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai anh Thành và hòa giải được. Chị Đinh Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì hiện đang đi làm ăn ở các tỉnh phía Nam do tình hình dịch bệnh nên không về tại Tòa án để tham gia phiên tòa được.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị Đinh Thị L đều có mặt theo giấy triệu tập và thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án còn anh Lê Hồng Th vắng mặt, Tòa án đã tiến hành thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Đinh Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn anh Lê Hồng Th vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ hai vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị Đinh Thị L và anh Lê Hồng Th. Về quan hệ hôn nhân đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Đinh Thị L được ly hôn anh Lê Hồng Th. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao hai con Lê Nữ Thùy Tr, sinh ngày: 09/01/2006 và Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 cho chị Đinh Thị L chăm sóc và nuôi dưỡng. Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Lê Hồng Th phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con theo quy định của pháp luật. Tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng chị Đinh Thị L để vợ chồng tự phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị Đinh Thị L đã nộp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ, án phí cấp dưỡng nuôi con anh Lê Hồng Th phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị L xin ly hôn anh Lê Hồng Th cả hai bên đều có hộ khẩu thường trú tại tiểu khu Đồng V, thị trấn Đồng L, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.Quá trình giải quyết chị Đinh Thị L có mặt còn anh Lê Hồng Th vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình cụ thể là bà Lê Thị Th là mẹ của anh Lê Hồng Th thì anh Thành có hộ khẩu chung hộ khẩu của bà Th thuộc tiểu khu Đồng V, thị trấn Đồng L, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Bà Lê Thị Th cho biết anh Lê Hồng Th là con trai của bà Th hiện không có mặt tại địa phương đang đi làm ăn tại các tỉnh phía Nam nên không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án. Anh Th thường xuyên có điện thoại về để liên lạc với gia đình.Vừa qua bà Thanh đã nhận được giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đối với anh Lê Hồng Th nhiều lần bà Th đã thông báo cho anh Th biết để về giải quyết nhưng anh Th từ chối không về được. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất phải hoãn phiên tòa do anh Lê Hồng Th vắng mặt không có lý do, còn chị Đinh Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh Thành vẫn tiếp tục vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị Đinh Thị L và anh Lê Hồng Th.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh Lê Hồng Th tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp,trong quá trình chung sốngvợ chồng có nhiều mâu thuẫn vì anh Thh thường xuyên đánh đập chị L, không quan tâm đến vợ con, chị L góp ý nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng chị Lợi đã cùng con về nhà ngoại sống một thời gian rồi vào các tỉnh phía Nam làm ăn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Chị L thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được nữa nên tha thiết xin được ly hôn anh Lê Hồng Th để ổn định cuộc sống. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Đinh Thị L và anh Lê Hồng Th thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị L đối với anh Lê Hồng Th là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử chị Đinh Thị L được ly hôn anh Lê Hồng Th.
Về con chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị L khai vợ chồngcó hai đứa con chung tên là Lê Nữ Thùy Tr, sinh ngày: 09/01/2006 và Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 hiện đang sống cùng chị Đinh Thị L, nguyện vọng của chị L cũng như hai con sau khi bố mẹ ly hôn xin được ở với mẹ là chị Đinh Thị L. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị L cũng như của các con là hoàn toàn chính đáng nên cần áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao hai con Lê Nữ Thùy Tr, sinh ngày: 09/01/2006 và con Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 cho chị Đinh Thị L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các con khôn lớn, trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng chị Đinh Thị L yêu cầu anh Lê Hồng Th phải đóng góp tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị L là phù hợp vì vậy cần áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình để buộc anh Lê Hồng Th phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến lúc con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 10/2022.
Chị Đinh Thị L không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Lê Hồng Th, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh Th có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .
Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị L đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số số 0000083 ngày 05/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Lê Hồng Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đinh Thị L đối với anh Lê Hồng Th.
Áp dụngkhoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị Đinh Thị L và anh Lê Hồng Th.
1.Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Đinh Thị L được ly hôn anh Lê Hồng Th.
2. Về con chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình: Giao con Lê Nữ Thùy Tr, sinh ngày: 09/01/2006 và con Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 cho chị Đinh Thị L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các con khôn lớn, trưởng thành.
3. Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Lê Hồng Th phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Lê Nữ Thùy D, sinh ngày: 24/10/2010 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến lúc con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 10/2022.
Chị Đinh Thị L không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Lê Hồng Th, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh Th có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí ly hôn: Chị Đinh Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền mà chị Đinh Thị L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0000083 ngày 05/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Như vậy chị Đinh Thị L đã nộp đủ án phí.
Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Hồng Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND thị trấn Đồng L, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Tuyên H; - Chi cục THADS huyện Tuyên H; - UBND xã Kim H; UBND TT Đồng L - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Trần Thanh Dần |