vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Hữu Sơn X đƣợc ly hôn chị Phạm Thị X

Về con chung: Giao con chung Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 cho anh Đỗ Hữu Sơn X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, giao con chung Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019 cho chị Phạm Thị X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi), (hiện con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Ly hôn giữa anh Đỗ Hữu Sơn X và chị Phạm Thị X"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Hữu Sơn X đƣợc ly hôn chị Phạm Thị X
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07-9-2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn X Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Vũ Thị Bền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22tháng8năm 2022giữa cácđƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Hữu Sơn X, sinh năm 1988

- Bị đơn: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1991

Đều trú tại: thôn Bích Đ, xã Quang P, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng

Các đƣơng sự đều vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn anh Đỗ Hữu Sơn X trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Hữu Sơn X và chị Phạm Thị X đƣợc tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21/7/2014 tại UBND xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dƣơng. Sau khi kết hôn, anh X và chị X sống cùng nhau tại nhà anh X ở thôn Bích Đồng xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ. Vợ chồng hạnh phúc đƣợc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến từ đầu năm 2022 hai vợ chồng dù sống chung 1 nhà nhƣng công việc của ai ngƣời ấy lo, không quan tâm đến nhau, mỗi ngƣời ở 1 tầng, sống ly thân. Gia đình hai bên đã nhiều lần động viên, khuyên bảo nhƣng hai vợ chồng vẫn không hàn gắn đƣợc. Nay anh Sơn X xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị xin ly hôn với chị X.

+ Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh X và chị X có 02 con chung: Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 và Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019, hiện cả 2 cháu đang ở với anh chị. Khi ly hôn, anh chị thống nhất giao con Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 cho anh X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, giao cháu Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019 cho chị X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh chị không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn chị Phạm Thị X trình bày:

Chị X xác định lời trình bày của anh X về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ anh X trình bày là đúng, về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn, tuy sống cùng một nhà nhƣng mỗi ngƣời ở một tầng, không ăn uống cùng nhau, việc này là do anh X tự muốn sống ly thân chứ chị không muốn và vẫn còn tình cảm với anh X nên chị không nhất trí ly hôn mà đề nghị Tòa án hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ.

+ Về con chung: Chị X xác định lời trình bày của anh X về số lƣợng con chung, tên tuổi, ngày tháng năm sinh của các con chung là đúng. Hiện các con chung đang ở cùng anh chị, trƣờng hợp anh X kiên quyết muốn ly hôn thì chị đề nghị đƣợc nuôi cháu Đỗ Nguyễn An còn anh X nuôi cháu Đỗ Hữu Xô V, không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, anh X và chị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết vụ án nhƣ sau: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đỗ Hữu Sơn X về việc xin ly hôn với chị Phạm Thị X; Về con chung: Giao cháu Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 cho anh X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, giao cháu Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019 cho chị X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công nợ: anh X, chị X không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết. Anh X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Đỗ Hữu Sơn X có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa anh và chị Phạm Thị X, tại thời điểm thụ lý vụ án chị X sinh sống tại thôn Bích Đ, xã Quang P, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Do đó TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý để giải quyết là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[1.2] Anh X và chị X sau khi nhận đƣợc Quyết định đƣa vụ án ra xét xử đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt anh chị theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Hữu Sơn X và chị Phạm Thị X đƣợc tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21/7/2014 tại UBND xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dƣơng nên đƣợc công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp nhau về tính cách, không có tiếng nói chung, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau và thực tế tuy sống chung một nhà nhƣng vợ chồng mỗi ngƣời ở một tầng, không ăn uống cùng nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay anh X có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh đƣợc ly hôn chị X, mặc dù chị X không đồng ý ly hôn nhƣng xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh X và chị X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của anh X, xử cho anh X đƣợc ly hôn chị X là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh X và chị X có 02 con chung: Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 và Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019, hiện cả 2 cháu đang ở với anh chị. Khi ly hôn, anh chị cùng có quan điểm giao con Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 cho anh X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, giao cháu Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019 cho chị X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh chị không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh chị là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ: Anh X và chị X không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.

Về án phí: Anh Đỗ Hữu Sơn X khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Hữu Sơn X đƣợc ly hôn chị Phạm Thị X

2. Về con chung: Giao con chung Đỗ Hữu Xô V, sinh ngày 15/9/2015 cho anh Đỗ Hữu Sơn X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, giao con chung Đỗ Nguyên Asinh ngày 30/4/2019 cho chị Phạm Thị X trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi), (hiện con chung đang ở cùng anh X và chị X). Chấp nhận sự tự nguyện của anh X và chị X về việc không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai.

Anh Đỗ Hữu Sơn X và chị chị Phạm Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Anh Đỗ Hữu Sơn X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0004447 ngày 26/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Anh X đã nộp đủ

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai , báo cho anh Đỗ Hữu Sơn X và chị Phạm Thị X biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ