vanban.org

Bản án 32/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Trần Thị H.

Buộc bà Trần Thị H có trách nhiệm trả tiền nợ gốc cho bà Nguyễn Thị Anh Đ với số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01-9-2022) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN BẢO L TỈNH
LÂM ĐỒNG
Bản án số: 32 /2022/DS-ST
Ngày: 31-8-2022
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Đức Minh

Bà Phan Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 51/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 54/2022/QĐST- DS ngày 16 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn 9, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1982

NKTT: Thôn 8A, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở hiện nay: Thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

( Bà Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ trình bày: Vào ngày 27/01/2021 (âm lịch) tức là ngày 10/3/2021 dương lịch, bà Nguyễn Thị Anh Đ có cho bà Trần Thị H vay số tiền 30.000.000 đồng, hai bên có thỏa thuận lãi suất, hẹn thời hạn trả nợ là sau 03 tháng là đến ngày 27/4/2021 âm lịch, bà Đ đã giao đủ số tiền trên cho bà H. Sau khi nhận đủ tiền bà H đã viết giấy nợ cho bà Đ. Khi vay bà H có giao cho bà Đ 01 Hộ khẩu và 01 CMND. Tuy nhiên sau đó bà Đ đã trả lại cho bà H 01 Hộ khẩu và 01 CMND trên.

Mặc dù đã quá thời hạn trả nợ, bà Đ đã nhiều lần đòi bà H không trả. Nay bà Nguyễn Thị Anh Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bảo L giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H trả cho bà Đ số tiền gốc là 30.000.000 đồng, bà Đ không yêu cầu bà H trả lãi suất phát sinh.

Bị đơn bà Trần Thị H đã được Tòa án Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập làm việc nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không được vì bà Trần Thị H vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thị H trả cho bà Nguyễn Thị Anh Đ số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng, không tính lãi suất phát sinh. Về án phí buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Trần Thị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ khởi kiện yêu cầu buộc bà Trần Thị H phải trả số tiền gốc là 30.000.000 đồng nên xác định quan hệ “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ, đối chiếu tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thể hiện:

Theo giấy mượn tiền ngày 27/01/2021 âm lịch thì ngày 27/01/2021 âm lịch bà Nguyễn Thị Anh Đ cho bà Nguyễn Thị H vay số tiền 30.000.000 đồng, hai bên có thỏa thuận lãi suất nhưng không ghi mức lãi suất cụ thể, hẹn thời hạn trả nợ là trong vòng 3 tháng là ngày 27/4/2021 bà H sẽ trả số tiền 30.000.000 đồng. Sau khi giao đủ tiền thì bà H viết giấy mượn tiền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được Tòa án Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập làm việc, thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đều hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Chứng tỏ, ngày 27/01/2021 âm lịch bà Đ cho bà H vay số tiền 30.000.000 đồng. Toàn bộ giấy mượn tiền do bà Đ cung cấp đều là chữ kí và chữ viết của bà Trần Thị H. Tuy nhiên cho đến nay bà H chưa trả tiền nợ là đúng sự thật nên khi Tòa án triệu tập đến làm rõ yêu cầu khởi kiện của bà Đ thì bà H trốn tránh. Do vậy, nay bà Đ khởi kiện yêu cầu buộc bà H có trách nhiệm trả số tiền gốc là 30.000.000 đồng là có cơ sở.

Bà Đ không yêu cầu bà H trả lãi suất phát sinh do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Khi vay bà H có giao cho bà Đ 01 Hộ khẩu và 01 CMND. Tuy nhiên sau đó bà Đ đã trả lại cho bà H 01 Hộ khẩu và 01 CMND trên. Do bà H không có mặt để làm việc cũng như không có lời khai nào nên không làm rõ được việc bà H đã nhận lại 01 Hộ khẩu và 01 CMND chưa. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

. Về án phí: Do bà Trần Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị Anh Đ số tiền 30.000.000 đồng nên cần buộc bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Trần Thị H.

Buộc bà Trần Thị H có trách nhiệm trả tiền nợ gốc cho bà Nguyễn Thị Anh Đ với số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01-9-2022) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Anh Đ được nhận lại số tiền 750.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004412 ngày 08/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành á dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ