- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: BÞ c¸o Nguyễn Thành L ph¹m téi " Tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HSST |
Ngày 01/9/2021
Nh©n danh
NƯíc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ HƯNG YÊN – TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang Lịch.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Hạnh.
2. Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Giang - Cán bộ Tòa án.
- Đại diện VKSND TP. Hưng Yên: Bà Đào Ngọc Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 32/ HSST, ngày 19/8/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST – HS ngày 20/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L (tên gọi khác: Không) Giới tính: Nam, sinh năm: 1978; HKTT: Phường Q, TP H, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam.; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957, con bà Lưu Thị D, sinh năm 1950; gia đình bị cáo có 3 anh em bị cáo là lớn; vợ Phạm Thị Đ, sinh năm 1979. Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2010;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01/9/2015 bị Phòng CSĐTTP về TTXH – Công an tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Ngày 28/9/2015 bị Tòa án nhân dân TP Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2017, chấp hành xong án phí từ ngày 12/11/2015). Ngày 20/3/2020 bị Công an TP Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong tiền phạt ngày 23/3/2020. Ngày 29/6/2021 bị cáo Nguyễn Thành L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989.
HKTT: Phường P, TP N, tỉnh Nam Định.
- Có mặt tại phiên Tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 26 phút ngày 12/5/2021, Tổ công tác của Công an thành phố Hưng Yên tiến hành tuần tra tại khu vực đường T, phường A, TP H, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thành L, sinh năm 1978, trú tại phường Q, TP H, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi tổ công tác yêu cầu, Nguyễn Thành L tự giác giao nộp 01 khẩu trang y tế màu xanh, bên trong có 04 túi nilon màu trắng viền màu đỏ gồm 03 túi kích thước (1,5x2)cm và 01 túi kích thước (2x2)cm, bên trong các túi này đều có chất dạng tinh thể màu trắng. Nguyễn Thành L khai nhận các túi nilon trên chứa ma túy đá của Nguyễn Thành L cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ, niêm anh phong vật chứng và đưa Nguyễn Thành L về trụ sở để làm việc.
Quá trình điều tra Nguyễn Thành L khai nhận: Khoảng 15 giờ chiều ngày 12/5/2021 Nguyễn Thành L bắt xe bus từ nhà đi sang khu vực cầu H với mục đích tìm mua ma túy tổng hợp dạng đá để sử dụng. Khi tới nơi Nguyễn Thành L thấy một người thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) có dáng vẻ giống người nghiện. Nguyễn Thành L hỏi “Anh có hàng không để cho em 300.000 đồng”. Người này hiểu ý là hỏi mua ma túy nên đồng ý và đưa cho Nguyễn Thành L 01 gói nhỏ được bọc bằng khẩu trang y tế màu xanh. Nguyễn Thành L mở ra thấy bên trong có 04 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, trong đó có 03 túi nilon có kích thước bằng nhau, 01 túi nilon có kích thước to hơn. Nguyễn Thành L mở ra xem bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể. Do là người nghiện nên Nguyễn Thành L tự nhận biết được đây là ma túy tổng hợp dạng đá. Nguyễn Thành L gói số ma túy trên lại và cất vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về nhà. Nguyễn Thành L ở nhà đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày thì Nguyễn Thành L cầm theo số ma túy trên rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh trắng BKS18B1-253.XX đến số nhà 90 đường T, phường A, TP H, tỉnh Hưng Yên là nhà trọ của anh Nguyễn Tuấn P, sinh năm 1985; trú tại phường H, TP H, tỉnh Hưng Yên và chị Vũ Thị Vân A, sinh năm 1994; trú tại phường T, TP N, tỉnh Nam Định. Nguyễn Thành L đến nhà anh Nguyễn Tuấn P và chị Vũ Thị Vân A chơi khoảng 30 phút thì ra về. Khi ra đến trước cửa nhà của Anh Nguyễn Tuấn P thì bị lực lượng Công an thành phố Hưng Yên kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang.
Ngày 13/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành L tại phường Q, TP H, tỉnh Hưng Yên. kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 132/MT-PC09 ngày 16/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong, có tổng khối lượng là 0,551g, là ma túy, là loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,473g methamphetamine trong phong bì niêm phong.
Kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Thành L, kết quả dương tính với Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 04 túi nilon màu trắng miệng mỗi túi đều có viền màu đỏ (trong đó gồm; 03 túi nilon có kích thước (1,5x2)cm và 01 túi nilon kích thước (2x2)cm. Bên trong mỗi túi đều chứa chất màu trắng dạng tinh thể). Niêm phong trong 01 phong bì dán kín; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh trắng, biển số 18B1-253.xx.
Quá trình điều tra đã xác định rõ chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh trắng, biển số 18B1-253.xx thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 địa chỉ phường P, TP N, tỉnh Nam Định. Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xin lại chiếc xe trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự đối với Nguyễn Thành L.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Thành L tại khu vực cầu H: Nguyễn Thành L khai không quen biết, mới gặp lần đầu nên không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Khi mua ma túy không có ai chứng kiến nên không có đủ thông tin để xác minh về người thanh niên trên.
Đối với Nguyễn Tuấn P và Vũ Thị Vân A: Kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Anh Nguyễn Tuấn P và Vũ Thị Vân A, kết quả dương tính với Methamphetamine. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã làm rõ ngày 12/5/2021 Nguyễn Thành L không sử dụng ma túy cùng với Anh Nguyễn Tuấn P và Vũ Thị Vân A tại số nhà 90 đường T, phường A, TP H, tỉnh Hưng Yên. Anh Nguyễn Tuấn P trình bày vào ngày 09/5/2021 Anh Nguyễn Tuấn P có một mình sử dụng ma túy đá tại khu vực đê thuộc phường L, TP H, tỉnh Hưng Yên. Còn Vũ Thị Vân A trình bày vào ngày 08/5/2021 Vũ Thị Vân A có sử dụng ma túy đá tại khu vực cầu ở TP N, tỉnh Nam Định. Việc Anh Nguyễn Tuấn P và Vũ Thị Vân A sử dụng ma túy trước đó không có ai chứng kiến, ngoài lời khai của các đối tượng thì không có tài liệu nào khác nên không có đủ căn cứ để xử lý đối với Anh Nguyễn Tuấn P và Vũ Thị Vân A về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra Nguyễn Thành L thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ phép chất ma túy của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số 32/ CT – VKS - TPHY ngày 16 tháng 8 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L ra trước TAND thành phố Hưng Yên để xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa hôm nay: Bị cáo Nguyễn Thành L đã thành khẩn khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H đề nghị xin lại chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh trắng, biển số 18B1-253.xx thuộc quyền sở hữu của chị, vì chị cho Nguyễn Thành L mượn để đi từ Nam Định về nhà. Chị không có đề nghị gì khác về dân sự đối với Nguyễn Thành L.
Đại diện VKSND thành phố Hưng Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 – BLHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về mức án phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dông điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 – BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 – BLTTHS.
+ Trả lại cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 địa chỉ phường P, TP N, tỉnh Nam Định chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh trắng, biển số 18B1-253.xx mà chị Nguyễn Thị H đã cho Nguyễn Thành L mượn, vì không liên quan đến việc phạm tội.
+ Tịch thu cho tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên số: 132/MT – PC09, số TCGĐ: 95 – CATP Hưng Yên, bên trong có 0,473g Methamphetamine, niêm phong còn nguyên vẹn.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, c¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu trong hồ sơ vụ án ®· ®ưîc tranh tụng t¹i phiªn toµ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về phân tích những chứng cứ xác định tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành L tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng ( BL 41 - 42); biên bản niêm phong vật chứng ( BL 40); phù hợp với bản kết luận giám định ( BL 32); phù hợp lời khai của người làm chứng anh Nguyễn Tuấn P ( BL 42 và 69 - 73) là người chứng kiến trực tiếp việc bắt quả tang và thu giữ vật chứng là số ma túy của bị cáo Nguyễn Thành L. Ngoài ra lời khai của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 26 phút ngày 12/5/2021 tại khu vực trước cửa số nhà 90 đường T, phường A, TP H, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thành L đã có hành vi tàng trữ 0,551 (Không phẩy năm trăm năm mươi mốt) gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Nên ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố Hưng Yên ®· truy tè bị cáo Nguyễn Thành L ra trước Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên để xét xử về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là đúng quy định của pháp luật không oan sai.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Ma túy là hiểm họa của nhân loại, nhà nước đã ra sức tuyên truyền để bài trừ hiểm họa. Chính bản thân bị cáo cũng biết tác hại của ma túy đến sức khỏe cũng như về việc tha hóa về đạo đức, mặc dù bị cáo đã được nhà nước giáo dục bằng hình phạt tù về ma túy nhưng bị cáo không chịu cải sửa mà tiếp tục tàng trữ để sử dụng, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó cần phải dành cho bị cáo một hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo và phòng ngừa tôi phạm chung.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: T¹i c¬ quan ®iÒu tra vµ t¹i phiªn Toµ h«m nay bÞ c¸o ®· thµnh khÈn khai b¸o về hành vi phạm tội của mình, nªn bị cáo ®ưîc hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại ®iÓm s kho¶n 1 ĐiÒu 51 - BLHS.
Hình phạt bổ sung: XÐt thÊy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nªn không ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.
Biện pháp tư pháp:
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 – BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 – BLTTHS.
+ Trả lại cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 địa chỉ phường P, TP N, tỉnh Nam Định chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh, trắng, biển kiểm soát số 18B1-253.xx, có 02 gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng, mà chị Nguyễn Thị H đã cho bị cáo Nguyễn Thành L mượn để đi, vì không liên quan đến việc phạm tội.
+ Tịch thu cho tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên số: 132/MT – PC09, số TCGĐ: 95 – CATP Hưng Yên, bên trong có 0,473g Methamphetamine, niêm phong còn nguyên vẹn. Tịch thu cho tiêu hủy 01 khẩu trang y tế màu xanh, đã qua sử dụng.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm theo qui ®Þnh t¹i khoản 2 ®iÒu 136 - BLTTHS vµ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 vÒ mức ¸n phÝ.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thành L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 – BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 – BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức án lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: BÞ c¸o Nguyễn Thành L ph¹m téi " Tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2021.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp khác:
- Về vật chứng:
+ Trả lại cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 địa chỉ phường P, TP N, tỉnh Nam Định chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki màu xanh, trắng, biển kiểm soát số 18B1-253.xx, có 02 gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng.
+ Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên số: 132/MT – PC09, số TCGĐ: 95/CATP Hưng Yên, bên trong có 0,473g Methamphetamine, niêm phong còn nguyên vẹn.
+ Tịch thu cho tiêu hủy 01 khẩu trang y tế màu xanh, đã qua sử dụng.
( Tình trạng số lượng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng của cơ quan Công an thành phố Hưng Yên, giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên)
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thành L và chị Nguyễn Thị H người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên Tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| N¬i nhËn: - VKSND thành phố Hưng Yên; - CA thành phố Hưng Yên; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Phòng kiểm tra &THA. TAND tỉnh; - UBND nơi bị cáo thường trú; - Lưu HS; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - Chñ to¹ phiªn toµ Đỗ Quang Lịch |