- Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sự - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HSST Ngày 13 tháng 8 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Ký
2. Bà Trần Thị Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Xuân Ngọc– Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2021/TLST - HS ngày 20 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/ QĐXXST – HS ngày 30 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo: Tạ Quang M, tên gọi khác không, sinh năm 1972; Nơi sinh: Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm H Th, xã Y Th, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Văn Cận; con bà Dương Thị Th; Vợ Nguyễn Thị Hồng H, con có 2 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Ngày 20/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 25.000.000 đồng về tội “ Đánh bạc” và 200.000đồng án phí hình sự. Ngày 14/4/2021 bị cáo chấp hành xong tiền phạt và án phí; tiền sự: Không; Bị cáo đang chấp hành lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Tạ Văn V, sinh năm 1985, trú tại xóm D, xã Y Th, huyện Y M, tỉnh N B (có mặt)
2. Anh Tạ Văn H, sinh năm 1975, trú tại xóm H Th, xã Y Th, huyện Y M, tỉnh N B. (có mặt)
3. Anh Tạ Văn D, sinh năm 1973, trú tại xóm H Th, xã Y Th, huyện Y M, tỉnh N B. (có mặt)
4. Anh Đào Văn Ngh, sinh năm 1973, trú tại xóm D, xã Y Th, huyện Y M, tỉnh N B. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tạ Quang M đã bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích. Sáng ngày 18/01/2021, Tạ Quang M cùng với Tạ Văn V, Tạ Văn H và Tạ Văn D đều cùng trú tại xã Yên Thái đến phụ giúp xây nhà cho anh Đào Văn Ngh tại xóm Dầu, xã Yên Thái, huyện Yên Mô. Ngh là em rể của M. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, anh Ngh đi đặt mua vật liệu xây dựng và đưa cho M cầm hộ số tiền 10.000.000đồng. Khi anh Ngh đi V nhìn thấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã cũ ở gầm giường tại gian phòng khách nhà anh Ngh nên rủ “ Anh em mình làm tý phỏm” M , H và D đồng ý. V quy định mức sát phạt ai về nhất thì được thu của người về nhì 10.000đồng, người về thứ ba 20.000đồng và về thứ tư 30.000đồng, bài “cháy” 40.000đồng, còn người có bài “ ù” thì được thu của những người chơi số tiền 50.000đồng. Cả 4 ngồi chơi tại gian phòng khách có sẵn chiếu ở đó. Đánh đến 15 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an xã Yên Thái, phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính thu giữ toàn bộ vật chứng gồm 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu cói và số tiền 13.635.000đồng trong đó thu giữ số tiền trên chiếu trước mặt các đối tượng là 3.635.000đồng; thu giữ trong người của M 10.000.000đồng. Công an xã Yên Thái chuyển hồ sơ cho cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mô.
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà bị cáo và người liên quan sử dụng vào việc đánh bạc là 3.635.000đồng ( trong đó Tạ Quang M sử dụng số tiền 900.000đồng, khi bị bắt thắng 180.000đồng; Tạ Văn H sử dụng số tiền 1.435.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 510.000đồng; Tạ Văn V sử dụng số tiền 550.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt không thua không thắng; Tạ Văn D sử dụng số tiền 750.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt thắng 330.000đồng) Số tiền 10.000.000đồng thu giữ trong người của M, quá trình điều tra xác định là tiền của anh Đào Xuân Ngh nhờ M giữ hộ, nên cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 10.000.000đồng cho anh Đào Xuân Ngh.
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 20 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị can: Tạ Quang M ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Tạ Quang M phạm tội Đánh bạc
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự
Xử phạt Tạ Quang M từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Tạ Quang Minh .
Giao bị cáo Tạ Quang M cho Uỷ ban nhân dân xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo Tạ Quang M thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
+ Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
+ Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.635.000 ( Ba triệu, sáu trăm ba mươi lăm nghìn) đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, cũ đã qua sử dụng; 01 chiếu cói, cũ đã qua sử dụng.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Tạ Quang M phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo là phù hợp với biên bản vi phạm hành chính, phù hợp với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như vật chứng được thu giữ có đủ căn cứ để xác định. Tạ Quang M đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích. Ngày 21/01/2021, Tạ Quang M cùng với Tạ Văn V, Tạ Văn D và Tạ Văn H đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “phỏm” tại nhà anh Đào Văn Ngh thuộc Xóm Dầu, xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.635.000đồng.
Hành vi dùng bộ bài tú lơ khơ để đánh “Phỏm” nhằm sát phạt nhau, được thua bằng tiền nêu trên mà bị cáo thực hiện đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc vi phạm quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Từ cờ bạc dẫn đến hàng loạt các loại tội phạm khác. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì cần thiết phải đưa ra xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới nhằm ngăn chặn tệ nạn đánh bạc nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba đây là tình tiết giảm nhẹ được quy đinh tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai xét xử bị cáo, phạt tiền 25 triệu đồng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án. Tiền án này đã được tính làm tình tiết định tội, do vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy để bị cáo nhận thức được lỗi lầm của mình, thiết nghĩ chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà để bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng có thể giúp bị cáo cải tạo mình trở thành công dân tốt thì chỉ cần xử phạt bị cáo với loại hình phạt Cải tạo không giam giữ.
Đối với hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bố ốm nặng có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy, miễn hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt.
Trong vụ án này cùng tham gia còn có Tạ Văn V, Tạ Văn D và Tạ Văn H đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.635.000đồng, bản thân H, D không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; V đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc tuy nhiên V đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử phạt hành chính do đó hành vi của Tạ Văn V, Tạ Văn D và Tạ Văn H không cấu thành tội phạm. Công an huyện Yên Mô đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V, D và H là đúng quy định của pháp luật.
Đối với anh Đào Văn Ngh là chủ nhà, khi bị cáo M và các đối tượng đánh bạc. Anh Ngh không có mặt ở nhà, không biết M và các đối tượng liên quan đánh bạc tại nhà mình, nên anh Ngh không vi phạm pháp luật.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền bị cáo và người có quyền lợi liên quan dùng vào việc đánh bạc, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định: Tạ Quang M sử dụng số tiền 900.000đồng, khi bị bắt thắng 180.000đồng; Tạ Văn H sử dụng số tiền 1.435.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 510.000đồng; Tạ Văn V sử dụng số tiền 550.000đồng khi bị bắt V không thua, không thắng; Tạ Văn D sử dụng số tiền 750.000đồng khi bị bắt thắng 330.000đồng. Tổng số tiền mà bị cáo và người liên quan sử dụng vào việc đánh bạc là 3.635.000đồng do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.
Đối với số tiền 10.000.000 thu giữ của Tạ Quang M, quá trình điều tra xác định số tiền trên là của anh Đào Văn Ngh gửi để mua vật liệu xây dựng, do vậy cơ Công an huyện Yên Mô đã trả lại cho anh Đào Văn Ngh.
Đối với bộ bài tú lơ khơ và chiếc chiếu cói là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.
Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
1.1. Tuyên bố bị cáo: Tạ Quang M phạm tội “ đánh bạc”.
1.2. Xử phạt Tạ Quang M 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Tạ Quang M.
Giao bị cáo Tạ Quang M cho Uỷ ban nhân dân xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo Tạ Quang M thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
+ Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo .
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
2.1 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.635.000 ( Ba triệu, sáu trăm
ba mươi lăm nghìn) đồng.
2.2 Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, cũ đã qua sử dụng; 01
chiếu cói, cũ đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 7 năm 2021 và ủy nhiệm chi lập ngày 21 tháng 7 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Tạ Quang M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm báo để bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình (1); - VKSND huyện Yên Mô(1); - Công an huyện Yên Mô(1); - UBND xã Yên Thái, huyện Yên Mô(1); - Sở Tư pháp Ninh Bình(1); - Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình(1); - Chi cục THADS huyện Yên Mô(1); - bị cáo(1); - Lưu hồ sơ vụ án(1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Phan Ngọc Hà |