vanban.org

Bản án 32/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tố N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng T T Ng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2021/HS-ST
Ngày 25 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Thế Chiến

2/ Ông Vũ Kim Quy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện

Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana,

tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Tố N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1984 tại huyện K, tỉnh Đắk

Lắk. Nơi cư trú số nhà .. đường L, tổ dân phố .., thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ;

tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 và bà Đặng Thị H3 (đã chết). Bị

cáo có chồng Đỗ Văn T, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại

phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đỗ Thanh P, sinh năm 1976

Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 (là vợ anh P)

cùng cư trú tại: Tổ dân phố .., thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Người làm chứng:

Ông Đỗ D, trú tại: .., thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

Ông Đỗ Sơn L, trú tại: tổ dân phố …, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có

mặt.

Anh Đỗ Bá D và anh Nguyễn Minh N, cùng trú tại; Tổ dân phố .., thị trấn B,

huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 21/9/2020, Nguyễ n Thị Tố N điề u khiể n xe ô tô hiệ u MAZDA , màu đỏ , biể n số 47A-308.60 chở chá u Nguyễ n Bả o N1 (sinh năm: 2016) trú tại tổ dân phố …, thị trấn B, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk đi từ số nhà … đườ ng L, tổ dân phố .., thị trấn B, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắ k về nhà chá u Nguyễ n Bả o N 1. Khi đi từ đườ ng H2 qua đườ ng H1 để đến đường T thuộ c KM23+750, tỉnh lộ .. (H1) gầ n nơi giao nhau giữ a đườ ng H1 và đường T thuộ c đị a phậ n tổ dân phố .., thị trấn B, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk. Do Nguyễ n Thị Tố N thiế u chú ý quan sá t , không nhườ ng đườ ng tạ i nơi đườ ng giao nhau giữ a đườ ng không ưu tiên (đườ ng H2) và đường ưu tiên (đường tỉnh ..H1) nên đã điề u khiể n xe ô tô biể n số 47A-308.60 lấ n sang phầ n đườ ng củ a xe mô tô hiệ u FC120, màu đỏ -đen-bạc, biể n số 47L1- 007.59 là 480cm do anh Đỗ Thanh P đang lưu thông trên đườ ng tỉ nh lộ 2 (ĐT…), ở phầ n đườ ng bên phả i theo hướ ng từ thị trấ n B, huyệ n K đi thà nh phố B, dẫ n đế n phía trước bên phải đầu xe ô tô 47A-308.60 đâm và o phí a trướ c bên trá i xe mô tô 47 L1-007.59 làm anh Đỗ Thanh P và xe mô tô ngã văng và o lề đườ ng bên phả i theo chiề u đi.

Sau khi xảy ra tai nạn , anh Đỗ Thanh P bị thương tích và được đưa đến

trung tâm y tế huyệ n K cấ p cứ u. Sau đó , anh Đỗ Thanh P đượ c chuyể n đế n Bệ nh việ n đa khoa vù ng Tây Nguyên và Bệ nh việ n Chợ rẫ y thà nh phố Hồ Chí Minh để điề u trị , rồ i chuyể n đế n Bệ nh việ n phụ c hồ i chứ c năng để tiế p tụ c điề u trị.

Trên cơ sở khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện thể hiện:

- Hiện trường xảy ra vụ tai nạn thuộc Km23+ 750 đường tỉnh lộ .. H1), nơi

giao nhau giữ a đườ ng H1 và đường T thuộ c tổ dân phố .., thị trấn B, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk. Đoạ n đườ ng thẳ ng, mặ t đườ ng phẳ ng, là đường hai chiề u, chiề u rộ ng mặ t đườ ng là 1.400cm; Hướ ng Đông Nam giao vớ i đườ ng T, chiề u rộ ng mặ t đườ ng là 375cm; Hướ ng Tây Bắ c giao vớ i đườ ngH2, chiề u rộ ng mặ t đườ ng là 610cm. Đoạ n đườ ng xả y ra tai nạ n có vạ ch kẻ đườ ng , trên đườ ng H2 và đường T có biển báo hiệ u giao nhau vớ i đườ ng ưu tiên.

- Hướng khám nghiệm là mép đường bên phải, theo hướ ng từ ngã tư trung tâm thị

trấ n B, huyệ n K đi đế n khu vự c H3 thuộ c đị a phậ n thị trấ nB, huyệ n K làm chuẩn và mố c cố đị nh là trụ điệ n số ĐD473 KNA2.

- Vị trí va chạm: Điểm (11) thể hiện trên sơ đồ hiện trường, là vùng va chạm giữa

xe ô tô 47A-308.60 vớ i xe mô tô47L1-007.59 nằ m trên mặ t đườ ngH1, tại phần đường bên phả i, kích thước vùng(128x97) cm. Tâm vù ng cá ch trụ c bá nh xe sau bên phả i củ a xe ô tô 47A-308.60 là 360cm, cách trục bánh sau bên trái của xe ô tô 47A-308.60 là 376cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tí ch số 12/TgT-TTPY ngày

10/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Đỗ Thanh P đang mở khí quả n ; bị vết thương để lại sẹo vùng trán , nằ m dọ c giữ a trá n hơi cong mở sang trá i, sát chân tó c trá n, bờ nham nhở , kích thước 3,5cm x 0,3cm; vế t thương để lại sẹo vùng trán thái dương trái , bờ nham nhở ; sẹo phần dưới chân tóc kích thướ c 4cm x 01cm; sẹo phần trên chân tóc kích thước 4cm x 01cm; vế t trầ y xướ c để lại sẹo gò má trái , cách đuôi mắt 1,5cm, cách trước tai trái 2cm, kích thước 3cm x 2cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o 1/3 giữ a trên vai trá i , kích thước 2,5cm x 1cm; hai vế t trầ y xướ c để lạ i 2 sẹo mặt sau ngoài khủy tay trái , kích thướ c 1,5cm x 1,5cm và 1,5cm x1cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o gố i phả i , kích thước 2cm x 1cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o mặ t trong gố i trá i kí ch thướ c 3cm x 0,3cm; vế t trầ y xướ c để lại sẹo mắt cá trong chân trái, kích thước 1cm x 0,3cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o vùng lưng trái, ngang L5 -S1, kích thước 1cm x 0,5cm; vế t thương để lạ i sẹ o nằ m dọc đầu trong cung mày trái , kích thước 2 x 0,3cm; vỡ sọ trá n trá i ; nứ t hố c mắ t trái; gãy cung gò má trái ; gãy thành xoang hàm hai bên ; sẹo cực dưới giác mạc mắ t trá i, kích thước 0,3cm x 0,1cm; ổ tổn thương não điều trị còn hình ảnh trên phim (dậ p nã o, xuấ t huyế t nã o thá i dương trá n hai bên ; máu tụ ngoài màng cứng trán trái; xuấ t huyết dướ i nhệ n, xuấ t huyế t liề m nã o ; yế u liệ t tứ chi ; cơ lự c tay , chân bên phả i 2/5; cơ lự c tay , chân bên trá i 3/5. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tí ch gây nên hiệ n tạ i là 89% (Tám mươi chí n phầ n trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 445/TgT-TTPY ngày

15/4/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Đỗ Thanh P đang mở khí quả n ; bị vết thương để lại sẹo vùng trán , nằ m dọ c giữ a trá n hơi cong mở sang trá i, sát chân tóc trán , bờ nham nhở , kích thước 3,5cm x 0,3cm; vế t thương để lại sẹo vùng trán thái dương trái , bờ nham nhở ; sẹo phần dưới chân tóc kích thướ c 4cm x 01cm; sẹo phần trên chân tóc kích thước 4cm x 01cm; vế t trầ y xướ c để lại sẹo gò má tr ái, cách đuôi mắt 1,5cm, cách trước tai trái 2cm, kích thước 3cm x 2cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o 1/3 giữ a trên vai trá i , kích thước 2,5cm x 1cm; hai vế t trầ y xướ c để lạ i 2 sẹo mặt sau ngoài khủy tay trái , kích thước 1,5cm x 1,5cm và 1,5cm x 1cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o gố i phả i, kích thước 2cm x 1cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o mặ t trong gố i trá i kí ch thướ c 3cm x 0,3cm; vế t trầ y xướ c để lại sẹo mắt cá trong chân trái, kích thước 1cm x 0,3cm; vế t trầ y xướ c để lạ i sẹ o vùng lưng trái, ngang L5-S1, kích thước 1cm x 0,5cm; vế t thương để lạ i sẹ o nằ m dọc đầu trong cung mày trái, kích thước 2cm x 0,3cm; vỡ sọ trá n trá i; nứ t hố c mắ t trái; gãy cung gò má trái ; gãy thành xoa ng hà m hai bên ; sẹo cực dưới giác mạc mắ t trá i, kích thước 0,3cm x 0,1cm; tổ n thương để lạ i sẹ o cự c dướ i giá c mạ c mắ t trái, kích thước 0,3cm x 0,1cm gây mù mắ t trá i (thị lực mắt phải 7/10; thị lực mắt trái đếm ngón tay 0,5m) ổ tổn thương não điều trị còn hình ảnh trên phim (dậ p não, xuấ t huyế t nã o thá i dương trá n hai bên ; máu tụ ngoài màng cứng trán trái ; xuấ t huyế t dướ i nhệ n , xuấ t huyế t liề m nã o ; yế u liệ t tứ chi ; cơ lự c tay , chân bên phải 2/5; cơ lự c tay, chân bên trá i 3/5. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiệ n tạ i là 93% (Chín mươi ba phầ n trăm).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KLĐG ngày 02/10/2020 của Hội

đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 xe mô tô FC120, màu đỏ-đen-bạc, biể n số47L1-007.59, nhãn hiệu HONDA bị hư hỏng do tai nạn giao thông gây thiệt hại có giá trị là 2.853.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Krông Ana đã thu giữ:

- 01 xe ô tô , màu đỏ, biể n số 47A-308.60, nhãn hiệu: MAZDA, số khung:

A2G00729K, số má y: A2221458D, trong tì nh trạ ng bị hư hỏ ng ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 47A-308.60; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 giấ y chứ ng nhậ n bả o hiể m số 0085817 và 01 giấ y chứ ng nhậ n kiể m đị nh số 0102438 của Nguyễ n Thị Tố N.

- 01 xe mô tô, màu đỏ-đen-bạc, biể n số 47L1-007.59, nhãn hiệu: Hon Da, số

khung: 1207BY061007, số má y: HC12E2861060, trong tì nh trạ ng bị hư hỏ ng; 01 giấ y đăng ký xe mô tô 47L1-007.59; 01 giấ y phé p lá i xe hạ ng A 1 và 01 mũ bảo hiể m mà u xanh đen củ a anh Đỗ Thanh P.

- 16 mảnh vỡ nhự a, màu đỏ và vỡ kính , màu nâu, không rõ hì nh dạ ng, do có

nhiề u mảnh vỡ to nhỏ khá c nhau nên không đo đượ c kích thước cụ thể, đượ c thu giữ trong quá trì nh khá m nghiệ m hiệ n trườ ng.

Cáo trạng số 27/CT-VKS-HS ngày 11/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Krông Ana truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tố N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Tố N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 220.000.000đ và đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K số tiền 80.000.000đ để bồi thường cho bị hại, đồng ý bồi thường thêm cho bị hại anh Đỗ Thanh P số tiền 100.000.000đ.

Đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị H trình bày: Quá trình anh Đỗ

Thanh P đi điều trị cho đến nay, bị cáo Nga đã bồi thường trực tiếp cho anh P số tiền 220.000.000đ, bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự huyện K là 80.000.000đ, nay chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho anh P 100.000.000đ nữa để gia đình chị có tiền đưa anh P đi tái khám và tiếp tục điều trị. Về hình phạt chị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana giữ

nguyên nội dung bản Cáo trạng phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tố N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1, Điều 260 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và

Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tố N từ 02 đến 03 năm tù, cho hưởng án treo

thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 586,

587, 589 và 590 Bộ luật Dân sự 2015:

Chấp nhận việc bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận về việc

bồi thường thiệt hại, theo đó bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh P số tiền 400.000.000đ, được khấu trừ số tiền đã bồi thường 220.000.000đ, số tiền đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K 80.000.000đ, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 100.000.000đ.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana ra

Quyết định trả lại xe mô tô cho đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị H 01 xe mô tô, màu đỏ-đen-bạc, biể n số 47L1-007.59, 01 giấ y đăng ký xe mô tô 47L1-007.59; 01 giấ y phé p lá i xe hạ ng A1 và 01 mũ bảo hiểm màu xanh đen.

Tịch thu, tiêu hủy 16 mảnh vỡ nhự a, màu đỏ và vỡ kính, màu nâu, không rõ

hình dạng, do có nhiề u mảnh vỡ to nhỏ khá c nhau nên không đo đượ c kí ch thướ c cụ thể, đượ c thu giữ trong quá trì nh khá m nghiệ m hiệ n trườ ng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Krông Ana, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo

trong giai đoạn điều tra, phù hợp với nội dung Cáo trạng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 21/9/2020, Nguyễ n Thị Tố N (có giấy phép lái xe ô tô hạng B2) điều khiển xe ô tô mang biể n số 47A-308.60 lưu thông từ đườ ng H2 qua đườ ng H1 để đến đường T thuộ c KM23+750, tỉnh lộ .., gầ n nơi giao nhau giữ a đườ ng H1 và đường T thuộ c đị a phậ n tổ dân phố ., thị trấn B, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk . Do Nguyễ n Thị Tố N thiế u chú ý quan sá t , không nhườ ng đườ ng tạ i nơi đườ ng giao nhau giữ a đườ ng không ưu tiên (đườ ng H2) và đường ưu tiên (đườ ng tỉ nh lộ … – đường H1) nên đã điề u khiể n xe mô tô biể n số 47A-308.60 lấ n sang phầ n đườ ng củ a xe mô tô biể n số 47L1-007.59 là 480 cm do anh Đỗ Thanh P điề u khiể n đang lưu thông trên đườ ng tỉ nh lộ .. (H1), ở phần đường bên phải theo hướng từ thị trấn B, huyệ n K đi thà nh phố B, dẫ n đế n phí a trướ c bên phả i đầ u xe ô tô 47A-308.60 đâm và o phía trước bên trái xe mô tô 47 L1-007.59 gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm anh Đỗ Thanh P bị tổ n thương cơ thể do thương tí ch gây nên là 93% và xe mô tô bị thiệt hại 2.853.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 3 Điều 24 Luật Giao

thông đường bộ.

Tại khoản 1 Điều 9 và khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008

quy định:

Điều 9. Quy tắc chung

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng

làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”…

Điều 24. Nhườ ng đườ ng tạ i nơi đườ ng giao nhau

“Khi đế n gầ n đườ ng giao nhau, ngườ i điề u khiể n phương tiệ n phả i cho xe giả m

tố c độ và nhườ ng đườ ng theo quy đị nh sau đây:

..............................

3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đườ ng nhá nh và đườ ng chí nh thì xe đi trên đườ ng không ưu tiên hoặ c đườ ng nhá nh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiênhoặ c đườ ng chí nh từ bấ t kỳ hướ ng nà o tớ i”.

Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về

tham gia giao thông đường bộ” nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 260 Bộ Luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn

giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a).................................

b) Gây thương tí ch hoặ c gây tổ n hạ i cho sứ c khỏe của 01 ngườ i mà tỷ lệ tổ n

thương cơ thể61% trở lên.”

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm

phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đi không đúng phần đường quy định tại nơi giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên, gây tai nạn giao thông với xe mô tô đi trên đường ưu tiên, hậu quả anh làm anh Đỗ Thanh P bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 93% và thiệt hại về tài sản 2.853.000 đồng. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi mà mình gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra

cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường phần lớn thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả, người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục, cùng với sự phối hợp của gia đình bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và các điều 584,

585, 591 Bộ luật dân sự 2015.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường

tổng cộng số tiền 400.000.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên. Xét thấy sự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần công nhận là phù hợp. Do bị cáo đã trực tiếp bồi thường cho bị hại số tiền 220.000.000đ và đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K số tiền 80.000.000đ để bồi thường, cần được khấu trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông trả

lại 01 xe mô tô , màu đỏ -đen-bạc, biể n số 47L1-007.59, nhãn hiệu: Hon Da, số khung: 1207BY061007, số má y: HC12E2861060, trong tì nh trạ ng bị hư hỏ ng; 01 giấ y đăng ký xe mô tô 47L1-007.59; 01 giấ y phé p lá i xe hạ ng A 1 và 01 mũ bảo hiể m mà u xanh đen cho đại diện hợp pháp của bị hại tại Quyết định xử lý vật chứng số 09/QĐ- ĐTTH ngày 12/5/2021 là phù hợp nên không đề cập giải quyết.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana đã ra Quyết định xử lý vật chứng

số 01/QĐ-VKS-HS ngày 16/6/2021 trả chiếc xe ôtô biển số 47A – 30860, nhãn hiệ u: MAZDA, số khung: A2G00729K, số má y: A2221458D, trong tì nh trạ ng bị hư hỏ ng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 47A-308.60; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 giấ y chứ ng nhậ n bả o hiể m số 0085817 và 01 giấ y chứ ng nhậ n kiể m đị nh số 0102438 cho Nguyễ n Thị Tố N là phù hợp nên không đề cập xử lý.

Đối với 16 mảnh vỡ nhự a, màu đỏ và vỡ kính, màu nâu, không rõ hì nh dạ ng,

do có nhiề u m ảnh vỡ to nhỏ khá c nhau nên không đo đượ c kí ch thướ c cụ thể , đượ c thu giữ trong quá trì nh khá m nghiệ m hiệ n trườ ng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ

thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tố N phạm tội “Vi phạm quy định về tham

gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tố N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho

hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo

dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại

khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các điều 584,

586, 587 và 591 Bộ luật dân sự 2015:

Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Thị Tố N và đại diện hợp pháp

của bị hại chị Nguyễn Thị H, bị cáo N phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Đỗ Thanh P số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã bồi thường 220.000.000đ, khấu trừ số tiền 80.000.000đ đã nộp tại biên lai số 3367 ngày 15/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Bị cáo N còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh P số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 16 mảnh vỡ nhự a, màu đỏ và vỡ kính, màu nâu, không rõ

hình dạng (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/6/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Ana và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Tố N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí

hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự,

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ