- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HS - ST Ngày 07/4/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC KẠN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lý Văn Liêm;
2/ Ông Hà Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2021/TLHS - ST ngày 05 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 11 năm 1983 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 163, khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Quang L và bà: Nguyễn Hà M; vợ là Trương Thị Mỹ Ng; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại:
1/ Công ty TNHH H
Địa chỉ: Tổ 9, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H – Chức vụ: Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn N; sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 9, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
(Theo giấy ủy quyền ngày 12/6/2019).
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2/ Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng 3xx.
Địa chỉ: Tổ 11C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Tống Văn D – Chức vụ: Giám đốc.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Văn Tr1 – SN: 1975; trú tại: Số 39 H, phường Ph, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Vắng mặt, không có lý do.
* Bị đơn dân sự đồng thời là ngƣời làm chứng:
Ông Nguyễn Văn Tr – SN: 1980; trú tại: Số 9, phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
* Ngƣời làm chứng:
1. Anh Đào Xuân Th – SN: 1989; trú tại: Thôn Ch, xã Ph, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
2. Chị Hoàng Thị M – SN: 1991; trú tại: Thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Khoảng buổi trưa ngày 26/5/2019 anh Nguyễn Văn Tr - Sinh năm 1980, trú tại số 9, phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh mượn chiếc xe ôtô BKS 30E - 427.20 của anh Bùi Văn Tr1 - Sinh năm 1975, trú tại Số 39 H, phường Ph, thành phố N, tỉnh Nam Định để đi giải quyết công việc riêng. Do có mối quan hệ quen biết nhau nên anh Tr1 đồng ý cho anh Tr mượn xe. Ngày 26/5/2019 anh Tr nhờ Nguyễn Quang H - Sinh năm 1983, trú tại số nhà 163, khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh điều khiển xe ô tô BKS 30E - 427.20 chở anh Tr đi từ tỉnh Quảng Ninh lên tỉnh Lạng Sơn sau đó sang tỉnh Cao Bằng giải quyết công việc.
Buổi chiều ngày 27/5/2019 sau khi giải quyết xong công việc tại tỉnh Cao Bằng thì Nguyễn Quang H điều khiển chiếc xe ô tô BKS 30E - 427.20 chở anh Tr quay về tỉnh Quảng Ninh nhưng đi theo đường Quốc lộ 3, trên đường đi anh Tr ngồi ở ghế phía trước bên phụ. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, H điều khiển xe ôtô BKS 30E - 427.20 theo hướng Cao Bằng – Hà Nội đến Km 151 + 650 QL3 thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Do mệt mỏi, không quen đường, thiếu quan sát, không làm chủ được tốc độ và không chuyển hướng kịp thời nên Nguyễn Quang H đã để ôtô do mình điều khiển va vào dải phân cách cứng bằng bê tông phân chia hai làn đường, sau đó lao lên trên dải phân cách gây hư hỏng 03 cây cảnh (loại cây Ngâu) rồi lao sang làn đường ngược chiều đâm vào sườn bên trái chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx do anh Lê Văn N - Sinh năm 1989, trú tại tổ 9, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn điều khiển chở theo anh Đào Xuân Th - Sinh năm 1989, trú tại thôn Ch, xã Ph, huyện B, tỉnh Bắc Kạn lưu thông theo hướng Hà Nội - Cao Bằng. Sau khi đâm vào chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx thì chiếc xe ôtô BKS 30E - 427.xx tiếp tục lao đi và dừng tại làn bên trong (sát dải phân cách) của đường một chiều hướng Hà Nội - Cao Bằng cách vị trí đâm vào chiếc xe ô tô biển kiểm soát 97A - 032.xx là 22m70. Hậu quả của vụ tai nạn là xe ô tô BKS 97A - 032.xx, xe ôtô BKS 30E - 427.xx cùng 3 cây xanh trồng trên dải phân cách bị hư hỏng.
Qua xác minh xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn Nguyễn Quang H và anh Lê Văn N có đủ điều kiện để điều khiển phương tiện và xuất trình được các giấy tờ có liên quan. Tiến hành đo nồng độ cồn xác định tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn Nguyễn Quang H và anh Lê Văn N không có nồng độ cồn trong khí thở.
Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã chủ trì phối hợp với các lực lượng có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện theo quy định.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:
Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường một chiều có dải phân cách cứng bằng bêtông cố định phân chia thành hai làn đường, đoạn đường thẳng khoảng 100m không bị hạn chế về tầm nhìn. Mặt đường trải nhựa áp phan, không duy tu hay cải tạo; chiều rộng của các làn đường là 7m60. Tại các làn đường có vạch sơn đứt đoạn màu trắng kẻ giữa lòng đường phân chia thành các làn đường dành cho phương tiện tham gia giao thông. Dải phân cách cứng bêtông có kích thước cao 14cm x rộng 1m90.
Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường bánh xe phía trước bên lái của xe ôtô BKS 30E - 427.xx bị hết hơi, ba bánh còn lại còn đầy hơi. Chiếc xe ôtô biển kiểm soát 97A - 032.xx cả bốn bánh còn đầy hơi. Mảnh nhựa găm vào bánh trước bên lái xe BKS 30E - 427.xx là miếng chắn bùn của bánh trước bên lái xe 30E-427.xx, được tạm giữ cùng phương tiện 30E-427.xx. Vị trí mảnh nhựa găm vào bánh xe phía trước bên lái xe 30E-427.xx là tại khe tiếp xúc giữa vành xe và lốp xe.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định điểm va chạm giữa xe ôtô BKS 30E - 427.xx và xe ôtô BKS 97A - 032.xx trong vụ tai nạn ngày 27/5/2019 tại Km 148 + 200 QL3 thuộc địa phận thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn là tại làn đường giành cho phương tiện lưu thông theo chiều hướng Hà Nội - Cao Bằng.
Kết quả khám nghiệm chiếc xe ôtô biển kiểm soát 97A - 032.xx:
- Cụm đèn chiếu sáng pha trước bên lái nứt vỡ, kích thước 23cm x 7cm.
- Vỏ kim loại phía trên bánh trước bên lái móp lõm, trượt xước chiều hướng từ trước về sau kích thước 90cm x 50cm x lõm sâu 9cm.
- Mặt ngoài lazăng bánh trước bên lái có vết trượt xước từ trước về sau, kích thước 50cm x 20cm.
- Mặt ngoài vỏ ốp kim loại phía trước của khung bên lái trượt xước bám dính chất màu đen, kích thước dài 60cm x rộng 6cm.
- Gương chiếu hậu gãy rời.
- Cánh cửa phía trước bên lái trượt xước, móp lõm, xô lệch từ trước về sau kích thước 1m20 x 1m15 x 7cm.
- Cánh cửa phía sau bên lái bung bật, gãy bản lề để lộ phần khung xe giữa thân xe, toàn bộ cánh cửa móp lõm, xô lệch chiều hướng từ trước về sau kích thước 1m x 1m17 x lõm sâu 15cm.
- Phần khung kim loại giữa thân xe bên lái trượt xước, móp lõm kích thước 20cm x 10cm.
- Phần khung kim loại giữa hai cánh cửa bên lái trượt xước, xô lệch từ ngoài vào trong, từ trước về sau kích thước dài 1m82 x rộng 8cm x sâu 4cm.
- Phần vỏ kim loại phía trên bánh sau móp lõm trượt xước bong tróc sơn chiều hướng từ trước về sau dài 57cm x rộng 50cm x lõm sâu 3cm.
- Mặt ngoài ốp lazăng bánh sau bên lái có vết trượt xước kích thước 50cm x 30cm.
- 02 (Hai) túi khí bên lái nổ bung bật.
- 01 (Một) túi khí ghế lái nổ bung bật.
- Phần nhựa ốp bên trong khung kim loại phía trước bên lái bung bật (Nhựa ốp trụ A bên lái).
Kết quả khám nghiệm chiếc xe ôtô biển kiểm soát 30E - 427.xx:
- Nắp capo bên lái trượt xước cong gập móp lõm kích thước dài 84cm x rộng 30cm x lõm sâu 10cm.
- Cụm đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu phía trước bên lái nứt vỡ hoàn toàn.
- Bađơxốc phía trước bên lái bị bung bật, trượt xước nứt vỡ, kích thước dài 1m10 x rộng 50cm.
- Đèn gầm phía trước bên lái nứt vỡ hoàn toàn.
- Vỏ kim lại phía trên bánh trước bên lái bung bật gẫy chốt lộ phần khung kim loại bên trong.
- Khung kim loại giá đỡ bađơxốc phía trước bên lái trượt xước, cong gập từ trước về sau bám dính chất màu đỏ kích thước 30cm x 17cm.
- Khung kim loại phía trên bánh trước bên lái bị trượt xước bám dính vật chất màu đỏ kích thước 34cm x 20cm.
- Bánh trước bên lái hết hơi.
- Mặt ngoài lazăng bánh trước bên lái trượt xước bám dính chất màu đỏ kích thước 45cm x 10cm.
- Gương chiếu hậu bên lái gẫy rời.
- Mặt ngoài cánh cửa phía trước bên lái trượt xước, móp lõm, cong gập từ trước về sau bám dính chất màu đỏ kích thước dài 1m10 x rộng 70cm x lõm sâu 5cm.
- Khung kim loại vị trí gắn bản lề cánh cửa phía trước bên lái trượt xước móp lõm kích thước 15cm x 6cm x lõm sâu 0,5cm.
- Mặt ngoài phần vỏ ốp phía trên bánh sau bên lái trượt xước, chiều hướng từ trước về sau kích thước 90cm x 16cm.
- Vỏ ốp phía sau bên lái và phần cụm đèn tín hiệu phía sau bên lái bung bật, gẫy chốt trượt xước kích thước dài 70cm x rộng 60cm.
- Vỏ ốp phía sau phía dưới đèn chiếu hậu bên phụ có vết trượt xước đã cũ.
- Quan sát bên trong xe không phát hiện hư hỏng.
*Kết quả kiểm tra 01 (Một) bánh xe của trục trước bên trái (bên lái) của chiếc xe ôtô biển kiểm soát 30E - 427.xx:
Lốp xe:
Quan sát mặt ngoài của lốp xe thấy các chữ và số sau: BRIDGESTONE DUELER H/T 684II 2R7Y DCD4214 DT61205-G 684AFZ 256/65R17 112S TUBELESS STEELBELTED RADIAL M+S MADE INDONESIA.
Từ các thông số trên chiếc lốp xe, chiếc lốp xe phía trước bên lái của chiếc xe ôtô biển kiểm soát 30E - 427.xx là loại lốp không săm, sản xuất tuần thứ 14 của năm 2014 do nước Indonesia sản xuất.
* Mặt ngoài của lốp xe phát hiện:
- Bám đất màu vàng tại mép trong của lốp nơi tiếp xúc với vành lốp, tập trung trên diện dài 20cm x 16cm.
- Cách điểm gần nhất của vị trí bám đất màu vàng xiên chéo ra mặt lăn của lốp theo chiều kim đồng hồ với khoảng cách 18cm là vết rách lốp (Vết rách nằm trên chữ I và chữ D của hàng chữ BRIDGESTONE), kích thước 3cm x rộng 1cm x sâu 0,3cm. Điểm gần nhất cách mép trong của lốp xe là 12cm.
- Cách điểm gần nhất của vị trí rách lốp xiên chéo ra mặt lăn của lốp theo chiều kim đồng hồ với khoảng cách 41cm phát hiện 01 (Một) thanh kim loại hình trụ bị cong gập, một đầu găm vào trong lốp, một đầu nhọn gập về phía trong vành xe (thanh kim loại nằm trên chữa E của hàng chữ BRIDGESTONE), kích thước thanh kim loại cong gập dài 1,5cm x đường kính 0,1cm). Vị trí thanh kim loại cách mép trong của lốp là 15cm.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.
* Mặt bên trong của lốp xe.
- Cách mép trong của lốp xe với khoảng cách 18cm vào bên trong lốp phát hiện miếng cao su vá lốp hình tròn có đường kính 4cm (miếng vá lốp cao su nằm song song với chữ E và R của hàng chữ bên ngoài lốp DUELER H/T).
- Tương ứng với vị trí thanh kim loại găm vào mặt ngoài lốp xe, tại mặt trong của lốp xe phát hiện một đầu kim loại có chiều hướng găm từ ngoài vào trong có đường kính 0,1cm; vị trí này cách miếng vá cao su là 80cm.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.
Vành xe:
* Mặt ngoài lazăng.
- Mặt ngoài lazăng cách vị trí chân van với khoảng cách 25cm theo chiều kim đồng hồ bám dính nhiều đất màu vàng tập trung trên diện 17cm x 5cm.
- Mặt ngoài lazăng chấu thứ 3 tính từ vị trí chân van theo chiều kim đồng hồ có vết trượt rách kim loại bám dính chất màu đỏ, kích thước 2cm x rộng 0,5cm x sâu 0,2cm; vị trí cách mép vành ngoài bánh xe là 7cm.
- Cách vị trí bám đất màu vàng 17cm theo chiều kim đồng hồ tại mặt ngoài vành xe có dấu vết trượt xước và lõm kim loại bờ mép nham nhở bám dính chất màu đỏ, kích thước dài 20cm x rộng 1cm. Kích thước vị trí hằn lõm sâu nhất dài 1,3cm x rộng 1cm x sâu 0,6cm.
* Mặt trong vành xe.
Vị trí móp lõm từ ngoài vào trong kích thước dài 10cm x 2,8cm.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.
Ngày 30/5/2019 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B ra Quyết định trưng giám định số 66 trưng cầu Hội đồng thẩm định kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ tỉnh Bắc Kạn giám định an toàn kỹ thuật xe ôtô 97A - 032.xx.
- Ngày 28/6/2019 Hội đồng thẩm định kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ tỉnh Bắc Kạn tiến hành giám định an toàn kỹ thuật đối với chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx kết luận:
+ Tại thời điểm kiểm tra hệ thống an toàn của xe như hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn, còi điện đảm bảo an toàn kỹ thuật; Các hệ thống khác không đảm bảo an toàn kỹ thuật theo như nội dung kiểm tra thực tế xe ở trên.
+ Tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 27/5/2019 thời hạn Giấy chứng nhận kiểm định ATKT & BVMT phương tiện cơ giới đường bộ số KC-9249900 còn hiệu lực để lưu hành (hết hạn kiểm định ngày 16/11/2021).
Ngày 30/5/2019 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B ra Quyết định trưng giám định số 65 trưng cầu Hội đồng thẩm định kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ tỉnh Bắc Kạn giám định kỹ thuật xe ôtô 30E - 427.xx.
Ngày 10/7/2019 Hội đồng thẩm định kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ tỉnh Bắc Kạn tiến hành giám định an toàn kỹ thuật đối với chiếc xe ôtô BKS 30E - 427.xx kết luận:
+ Tại thời điểm kiểm tra hệ thống an toàn của xe như hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn, còi điện đảm bảo an toàn kỹ thuật; hệ thống đèn, các hệ thống khác không đảm bảo an toàn kỹ thuật theo như nội dung kiểm tra thực tế xe ở trên.
+ Tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 27/5/2019 thời hạn Giấy chứng nhận kiểm định ATKT & BVMT phương tiện cơ giới đường bộ số KC-6266191 còn hiệu lực lưu hành (có hiệu lực hết ngày 24/6/2019).
Ngày 01/6/2020 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B ra Quyết định trưng giám định số 80 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Kạn giám định cơ học đối với bánh xe phía trước bên lái của chiếc xe ôtô BKS 30E - 427.xx.
Ngày 08/6/2020 Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Kạn ra Bản kết luận giám định số 04/KTHS-KT kết luận bánh xe phía trước bên lái của chiếc xe ôtô BKS 30E - 427.xx như sau:
- Thanh kim loại trên lốp xe gửi giám định có làm xì hơi lốp xe nhưng không làm giảm áp suất lốp đột ngột.
- Trường hợp giảm áp suất lốp đột ngột sẽ ảnh hưởng tới hệ thống cân bằng lái của xe ôtô, dẫn đến mất lái.
Kết quả kiểm tra video trích xuất từ camera trên xe ôtô BKS 97A - 032.xx:
Qua kiểm tra các file video trong thẻ nhớ, FILE160113-065046 là video xuất hiện hình ảnh liên quan đến vụ “Tai nạn giao thông” xảy ra tại Km 151 + 650 QL3 thuộc địa phận thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn ngày 27/5/2019.
Độ dài của FILE160113-065046 video là 51 giây ghi từ 2016:01:13-06:50:46 đến 2016:01:13-06:51:38. Góc camera đặt ở bên dưới gương chiếu hậu phía trong kính chắn gió đằng trước của chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx. Chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx di chuyển trên đường theo hướng Hà Nội - Cao Bằng.
Tại thời điểm 2016:01:13-06: 51: 34 thì xuất hiện hình ảnh chiếc xe ôtô nhãn hiệu Toyota Fortuner màu sơn bạc di chuyển tại làn đường một chiều hướng Cao Bằng - Hà Nội thuộc thôn N, xã N, thành phố Bắc Kạn.
Tại thời điểm 2016:01: 13-06: 51:36 đến thời điểm 2016:01: 13-06: 51:37 nghe thấy tiếng ma sát của lốp xe ô tô với mặt đường (tiếng rít của lốp xe), đồng thời thấy hình ảnh chiếc xe ôtô nhãn hiệu Toyota Fortuner BKS 30E - 427.20 lao lên dải phân cách cứng phân chia hai làn đường sang làn đường một chiều hướng Hà Nội - Cao Bằng.
Tại thời điểm 2016:01: 13-06: 51:37 đến thời điểm 2016:01: 13-06: 51:38 nghe thấy tiếng va chạm của hai phương tiện là chiếc xe ôtô nhãn hiệu Toyota Fortuner BKS 30E - 427.xx với chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx tại làn bên trong của đường một chiều hướng Hà Nội - Cao Bằng.
Trong FILE160113-065046 video không nghe thấy bất cứ tiếng nổ nào tại khu vực Km 151 + 650 Quốc lộ 3 thuộc thôn N, xã N, thành phố B.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 16/8/2019 của Hội đồng định giá thành phố B đã kết luận: 01 (Một) xe ô tô BKS: 97A-032.xx, nhãn hiệu KIA, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Giá trị thiệt hại là: 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 05/11/2019 của Hội đồng định giá thành phố B đã kết luận: 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA (FORTUNER) BKS: 30E-427.xx, màu sơn bạc đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Giá trị thiệt hại là: 29.175.000đ (Hai mươi chín triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 03/8/2020 của Hội đồng định giá thành phố B đã kết luận: 03 (Ba) cây Ngâu xanh trồng trên dải phân cách chia hai làn đường, cây bị hư hỏng sau vụ tai nạn giao thông. Giá trị thiệt hại là: 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự:
+ Ngày 22/5/2020 ông Bùi Văn Tr1 (là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe ôtô BKS 30E - 427.xx) và bị cáo Nguyễn Quang H đã cùng thống nhất bồi thường cho anh Lê Văn N (là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H) tổng số tiền là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng), phương tiện bị hư hỏng trong vụ tai nạn các bên tự khắc phục sửa chữa. Anh N đã nhận đủ tiền bồi thường, đến nay không đề nghị bồi thường thêm.
+ Ông Bùi Văn Tr1 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô BKS 30E - 427.xx không yêu cầu bị cáo và ông Nguyễn Văn Tr bồi thường thiệt hại về dân sự.
+ Người đại diện Công ty cổ phần Đầu tư & xây dựng 3xx là ông Tống Văn D (Giám đốc) đã nhận đủ số tiền bị cáo Nguyễn Quang H bồi thường là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đến nay không yêu cầu bồi thường thêm.
Căn cứ kết quả điều tra thu thập được thấy đoạn đường xảy ra vụ tai nạn nằm trong khu vực đông dân cư, nên theo quy định tại Điều 12 của Luật giao thông đường bộ và tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT - BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ thì người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép và người điều khiển phương tiện phải chạy với tốc độ phù hợp với điều kiện của đường, địa hình.
Tại Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định: “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường…”
Tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư 91/2015/TT - BGTVT ngày 31/12/2015 quy định chi tiết:
“Điều 4. Nguyên tắc chung khi điều khiển phương tiện trên đường bộ về tốc độ và khoảng cách
…
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp với điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.
Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:
1. ….
5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông.
…”
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Quang H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT - VKSTP ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“ 1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe số: AV9413xx mang tên Nguyễn Quang H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/9/2012 cho bị cáo H.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bánh xe phía trước bên lái của chiếc xe ôtô BKS 30E – 427.xx (Đã qua sử dụng và bị hết hơi).
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 (Một) thẻ nhớ trong Camera hành trình gắn trên chiếc xe ô tô 97A - 032.xx.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Quang H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do lỗi của bị cáo. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện cùng với chủ xe thỏa thuận bồi thường xong theo yêu cầu của các bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, các con còn nhỏ, xin Hội đồng xét xử xem xét xử hình phạt tiền đối với bị cáo để bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội, lao động kiếm sống nuôi vợ con, bị cáo xin hứa sẽ tu dưỡng, rèn luyện tốt, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Người đại diện hợp pháp của các bị hại là Công ty TNHH H, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng 3xx vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt trong đó nói rõ về trách nhiệm dân sự các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, nay các bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn Tr1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án ông Tr1 đã có lời khai nói rõ ông không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với phần hư hỏng của xe ô tô BKS 30E – 427.xx.
Bị đơn dân sự - Ông Nguyễn Văn Tr có ý kiến như sau: Về trách nhiệm dân sự ông Bùi Văn Tr1 (là chủ xe) và bị cáo Nguyễn Quang H đã thỏa thuận và thống nhất bồi thường thiệt hại đầy đủ cho người bị hại. Đối với xe ô tô BKS 30E – 427.xx bị hư hỏng do bị cáo lái xe gây tai nạn giao thông thì ông Tr1 không yêu cầu bồi thường, do vậy ông Tr cũng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃
được tranh tụng tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n định như sau:
[1] Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trinh điều tra, truy
̀ tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu na ̣i về hành vi , quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng và ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:
Khoảng hơn 17 giờ ngày 27/5/2019, Nguyễn Quang H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA (FORTUNER) BKS: 30E-427.xx chở theo anh Nguyễn Văn Tr
- Sinh năm 1980, trú tại số 9, phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, đi theo đường Quốc lộ 3 theo hướng Cao Bằng – Hà Nội đến Km 151 + 650 QL3 thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đã không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ và không chuyển hướng kịp thời từ đường thẳng vào đường cua trong khu vực đông dân cư nên đã để ôtô do mình điều khiển va vào dải phân cách cứng bằng bê tông phân chia hai làn đường, sau đó lao lên trên dải phân cách gây hư hỏng 03 cây cảnh (loại cây Ngâu) rồi lao sang làn đường ngược chiều đâm vào sườn bên trái chiếc xe ôtô BKS 97A - 032.xx do anh Lê Văn N - Sinh năm 1989, trú tại tổ 9, phường Ph, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn điều khiển đang lưu thông theo hướng Hà Nội - Cao Bằng, gây hư hỏng và thiệt hại về tài sản cho xe ô tô BKS 97A
- 032.xx, trị giá thiệt hại là 140.000.000 đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và làm hư hỏng 3 cây Ngâu trồng trên dải phân cách, giá trị thiệt hại là: 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng giá trị thiệt hại là 141.500.000đ (Một trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tinh chất , mứ c đô ̣ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo
́ thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của nhà nước về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội của địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra người bị hại và bị đơn dân sự có ý kiến đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, các con còn nhỏ, mặt khác bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi vô ý, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ gây thiệt hại về tài sản cho người khác; xét thấy việc áp dụng hình phạt xử phạt tiền đối với bị cáo cũng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mà vẫn đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được ở ngoài xã hội chăm sóc cho vợ con và nuôi dạy các con nên người.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, do vậy để tạo điều kiện cho bị cáo có công việc làm nuôi sống vợ con nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong. Tại phiên tòa không ai có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự, do vậy HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe số: AV9413xx mang tên Nguyễn Quang H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/9/2012 cho bị cáo H.
- Đối với 01 (Một) bánh xe phía trước bên lái của chiếc xe ôtô BKS 30E – 427.xx (Đã qua sử dụng và bị hết hơi), không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) thẻ nhớ trong Camera hành trình gắn trên chiếc xe ô tô 97A
- 032.xx được lưu cùng hồ sơ vụ án.
- Đối với các tài sản, đồ vật, giấy tờ trong quá trình điều tra đã tạm giữ gồm:
+ 01 Chiếc xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNE màu sơn bạc, BKS 30E - 427.xx.
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 364224 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 24/3/2017, mang tên CT TNHH VTDK OPEC.
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện cơ giới đường bộ số KC6266191 do Trung tâm Đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ số 2903S Mỹ Đình cấp ngày 25/6/2018.
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số: 004420989 do Công ty Bảo hiểm Bảo Việt - Công ty Bảo Việt Phú Mỹ cấp ngày 26/3/2018 cho chiếc xe ô tô BKS 30E - 427.xx.
+ 01 (Một) chiếc xe ôtô nhãn hiệu KIA CERATO màu sơn Đỏ, BKS 97A - 032.xx.
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 005606.
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện cơ giới đường bộ số KC9249900.
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số: DK19/0063526
+ 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số 004420989.
+ 01 (Một) giấy phép lái xe hạng B2 số 0601110006567.
Xét thấy việc trả lại những vật chứng là tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Bắc Kạn trả lại hai chiếc xe ôtô và các giấy tờ trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn Tr và anh Lê Văn N là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quang H 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe số: AV9413xx mang tên Nguyễn Quang H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/9/2012 cho bị cáo H.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bánh xe phía trước bên lái của chiếc xe ôtô BKS 30E – 427.xx (Đã qua sử dụng và bị hết hơi).
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 (Một) thẻ nhớ trong Camera hành trình gắn trên chiếc xe ô tô 97A - 032.xx.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).
3.Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSNDTP B; - Công an TP B; - THADS TP B; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Bị đơn dân sự; - Người có QL,NVLQ; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nguyệt Thu |