vanban.org

Bản án 32/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh T phạm tội: “Đánh bạc”.

38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử Phạt: Bị cáo Bùi Minh T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh T phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2021/HS-ST

Ngày: 11/10/2021

HUYỆN H Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đoạt Bà Phạm Hồng Gái Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Võ Trần Tiến - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 10 năm 2021. Tại trụ sở TAND huyện H, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST-HS ngày 12/7/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2021/QĐHSST ngày 29/7/2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số 03/2021/TB0HS ngày 04/10/2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Bùi Minh T, sinh ngày: 01/01/1990 - Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo. Trình độ văn hóa: 2/12; Nghề nghiệp: Mua bán. Họ và tên cha: Bùi Minh K (đã chết). Họ và tên mẹ: Lê Thị L – sinh năm: 1950. Anh (chị) em ruột: gồm 04 người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1993, bị cáo là người con thứ ba trong gia đình. Vợ: Bùi Thị M, sinh năm: 1988.

Con: 02 đứa, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018. Tiền sự: Ngày 07/4/2020 bị Công an xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Tiền án: Không có. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2021 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 06/4/2020, Bùi Minh T có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền tại tổ 10 ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang bị Công an xã M, huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ ngày 01/8/2020, Bùi Minh T đến quán nước nhà bà Lê Thị L tại ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang uống cà phê thì gặp Bùi Minh T 1, Nguyễn Khắc Tr, Nguyễn Văn Th, Huỳnh Văn N, Lê Phước G đang ngồi trong quán nên T vào ngồi uống cùng. Sau đó, T cùng với T1, Tr, Th, N, G rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền hình thức đánh bài binh 06 lá đếm nút. Nhóm T đã mua bài tây loại bài 52 lá của gia đình bà L. Sau đó, mỗi người làm cái xoay vòng, mỗi tụ đặt số tiền thấp nhất là 5.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. T đã tham gia chơi khoảng 20 ván, trong đó T làm cái 02 ván (thắng 01 ván, thua 01 ván) và đặt 18 ván, bị thua số tiền 50.000 đồng. Trong lúc T đang đánh bạc ăn thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an xã M, huyện H phát hiện bắt giữ, tạm giữ tang vật trên chiếu bạc là 350.000 đồng, 212 lá bài tây và 01 tấm bạt bằng ny lông màu cam. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Minh T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-HĐ ngày 01/7/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Bùi Minh T về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và xác định vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Minh T 03 tháng đến 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 212 lá bài tây loại bài 52 lá (đã qua sử dụng); 01 tấm bạt bằng ny lông màu cam kích thước 2m27 x 1m50 (đã qua sử dụng). Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng tiền Việt Nam gồm: 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng. Hiện đang nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Kiên Giang. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định. Bị cáo có ý kiến: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt bị cáo. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tiền cho bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên của huyện H trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp. [2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiêm hiện trường, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Minh T là người có tiền sự về hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền chưa được xóa án tích. Đến ngày 01/8/2020 tại ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, Bùi Minh T tiếp tục cùng với Bùi Minh T 1, Nguyễn Khắc Tr, Nguyễn Văn Th, Huỳnh Văn N, Lê Phước G đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình

thức bài binh 06 lá đếm nút. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc là 350.000 đồng, 212 lá bài tây và 01 tấm bạt bằng ny lông màu cam. Do đó, hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” vi phạm vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. [3] Xét tính chất, mức độ phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo đã cố tình thực hiện. Bị cáo có tiền sự về tội đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên được cho tại ngoại để điều tra, nhưng bị cáo lại không chấp hành mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Cụ thể vào ngày 19/8/2021 bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính số 8388/QĐ- XPVPHC về hành vi không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người tại Quyết định số 1777/QĐUBND ngày 18/7/2021 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc áp dụng các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch bệnh covid-19 theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang với số tiền phạt là 15.000.000 đồng và hành vi đánh bạc trái phép (bằng hình thức khác là đánh bài binh 6 lá ăn tiền) với số tiền phạt là 2.000.000 đồng. Tổng số tiền phạt của hai hành vi là 17.000.000 đồng. Qua đó, nhận thấy bị cáo coi thường pháp luật không chấp hành nghiêm theo quy định của pháp luật trong thời gian bị cáo được cho tại ngoại để chờ Tòa án xét xử. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. [4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 212 lá bài tây loại bài 52 lá (đã qua sử dụng); 01 tấm bạt bằng ny lông màu cam kích thước 2m27 x 1m50 (đã qua sử dụng). Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng tiền Việt Nam gồm: 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng. Hiện đang nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. [8] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo lần đầu phạm tội, bản thân bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có căn cứ chấp nhận. [9] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Minh T phải chịu án hình sự theo quy định của pháp luật. [10] Các vấn đề khác: Đối với Bùi Minh T 1, Nguyễn Khắc Tr, Nguyễn Văn Th, Huỳnh Văn N và Lê Phước G là những người chưa có tiền án, tiền sự, đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền, mức độ ăn thua nhỏ lẻ, chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người 1.500.000 đồng. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh T phạm tội: “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử Phạt: Bị cáo Bùi Minh T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 212 lá bài tây loại bài 52 lá (đã qua sử dụng); 01 tấm bạt bằng ny lông màu cam kích thước 2m27 x 1m50 (đã qua sử dụng).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng tiền Việt Nam gồm: 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 02 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng. Hiện đang nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Kiên Giang. Về hình phạt bồ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Minh T. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ