vanban.org

Bản án 32/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 15/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15 tháng 3 năm 2021. Tuyên giao bị cáo Nguyễn Thị Tường V về Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đ giám sát, giáo dục trong thời gian th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Thị Tường V phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bồ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2021/HS-ST
Ngày: 15-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hà

2. Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Tường V, tên gọi khác: Không có;

Sinh ngày: 13/02/1999 tại thành phố Đ; Nơi đăng ký hộ khẩu: Tổ 20, phường T, quận H, thành phố Đ; Chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1962 (s) và bà Trần Thị Diệu L1, sinh năm 1967 (s); Chồng, con: Chưa.

Tiền án: không.

Tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ 40, phường H, quận C, thành phố Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Chị Lưu Gia L2, sinh năm 1997; Địa chỉ: K464H15/52 đường T, phường H, quận C, thành phố Đ (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Trần Thanh L3, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ 20, phường T, quận H, thành phố Đ (vắng mặt).

+ Bà Trần Thị Diệu L1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đ (vắng mặt).

+ Bà Trương Thị P, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 11 đường D, tổ 53, phường A, quận S, thành phố Đ (vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Thạch Đình H, sinh năm 1978 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 13/7/2020, Nguyễn Thị Tường V không có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 43R1-4772 có dung tích xilanh 110 cm3 đi trên đường Trường Chinh, thành phố Đà Nẵng theo hướng từ cầu vượt Hòa Cầm về cầu vượt Ngã Ba Huế. Đến đoạn giao nhau đường Trường Chinh

- Nguyễn Phước Nguyên, V thấy hệ thống đèn vàng nhấp nháy và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng không giảm tốc độ mà tiếp tục điều khiển xe vượt qua, khi đến đoạn trước nhà số 275 Trường Chinh, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 43S8-2958 do bà Nguyễn Thị Ngọc A (sinh năm 1970, trú tại tổ 40, phường Hòa An, quận C, thành phố, Đà Nẵng) điều khiển, đang chạy phía trước, cùng chiều. Hậu quả bà A bị thương nặng đưa vào bênh viện cấp cứu.

Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 213/TgT ngày 16/9/2020 của Trung tâm giám định pháp y thuộc sở y tế thành phố Đà Nẵng kết luận thương tích của bà Nguyễn Thị Ngọc A như sau: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não: Dập não tụ máu nhu mô thái dương trái và chẩm phải, tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, tụ máu não thất bên trái, tụ máu ngoài màng cứng hố thái dương phải, tụ máu rãnh não bán cầu trái và cấu trúc đường giữa lệch phải đã điều trị phẫu thuật lấy máu tụ bên trái và phải. Hiện tại bên ngoài vết mổ đã lành tạo xẹo; khuyết vùng sọ não hai bên; nạn nhân tỉnh, tiếp xúc được nhưng chậm, yếu nhẹ ½ người phải, thể trạng suy nhược và yếu, các sinh hoạt cần có người trợ giúp, tiểu tiện tự chủ; phản xạ gân xương bình thường, không rối loạn cảm giác chi. Các tổn thương phần mềm khác. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 68%.

Hiện trường để lại: Đường Trường Chinh (đoạn trước nhà số 275), phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nơi xảy ra tai nạn là loại đường đôi, mỗi chiều đường xe chạy rộng 10,5 m được trải nhựa thẳng phẳng, chia thành 03 làn đường xe chạy. Dải phân cách đoạn xảy ra tai nạn rộng 01m. Tại hiện trường có bố trí vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường.

- Chọn mép tường bên phải nhà số 275 Trường Chinh, Đà Nẵng làm điểm mốc. Chọn mép bên phải đường Trường Chinh hướng thuận chiều xe chạy từ cầu vượt Hòa Cầm về phía Ngã Ba Huế làm mép chuẩn.

- Sau khi xảy ra tai nạn:

+ Xe mô tô BKS 43R1-4772: ngã về trái, nằm trên làn đường thứ hai tính lề đường về phía dải phân cách, đầu xe hướng về phía cầu vượt Ngã Ba Huế và chếch về phải. Từ điểm mốc đo vuông góc về phía cầu vượt Ngã Ba Huế 12m là ngang với trục bánh xe trước. Trục bánh trước cách mép chuẩn 3,6m, đo vuông góc về hướng cầu vượt Hòa Cầm 16m là ngang vị trí vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và đo vuông góc về hướng Ngã 3 Huế 02m là ngang vị trí trục bánh sau xe mô tô BKS 43S8-2958. Trục Bánh sau cách mép chuẩn 4,9m.

+ Vết cày xước do xe mô tô BKS 43R1-4772 để lại trên mặt đường: dài 10 m, không liên tục, hướng từ Hòa Cầm về Ngã Ba Huế. Đầu vết cày xước cách mép chuẩn 5,6m. Điểm kết thúc nằm ngang dưới xe giữa xe mô tô BKS 43R1-4772.

+ Xe mô tô BKS 43S8-2958: ngã về phải, nằm ở làn đường thứ hai tính từ lề đường về phía dải phân cách. Đầu xe hướng về Ngã Ba Huế và chếch về trái. Trục bánh trước cách mép chuẩn 7,1m. Trục bánh sau cách mép chuẩn 6,3m.

+ Vết cày xước do xe mô tô BKS 43S8-2958 để lại trên mặt đường: dài 9,6m, không liên tục, có chiều hướng từ Hòa Cầm về Ngã 3 Huế. Đầu vết cày cách mép chuẩn 6,6m. Điểm kết thúc nằm ngang dưới giữa xe mô tô BKS 43S8-2958.

Vật chứng thu giữ tại hiện trường:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 43R1-4772;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 43S8-2958.

Ngoài ra, Đội Cảnh sát giao thông Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng còn thu thập 01 đoạn video được trích xuất camera giám sát tại nút Hòa An- đường sắt với thời lượng 06 phút, ghi nhận hình ảnh giao lộ Trường Chinh-Nguyễn Phước Nguyên, thành phố Đà Nẵng từ thời điểm 04 giờ 59 phút 02 giây đến 05 giờ 05 phút 02 giây ngày 13/7/2020 được lưu vào đĩa DVD do công ty cổ phần đường sắt Quảng Nam – Đà Nẵng đại diện là Phạm Đinh Hiệp (trú tại 196 Hải Phòng, Thành phố Đà Nẵng) cung cấp.

Vào ngày 16/7/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng khám phương tiện xác định:

- Đối với xe mô tô BKS 43R1-4772:

+ Mặt ngoài bên trái đoạn giữa chắn bùn bánh trước có vết va chạm làm vỡ nứt nhựa kích thước (6x5)cm, điểm cao nhất cách đất 56cm, điểm thấp nhất cách đất 50cm.

+ Đoạn giữa trước càng phuộc bên trái bánh trước có vết va chạm làm sạch bụi khuyết kim loại hướng từ trước về sau kích thước (18x4)cm, điểm thấp nhất cách đất 31cm, điểm cao nhất cách đất 49cm, đồng thời càng phuộc bánh trước đi lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ phải sang trái, từ trước về sau.

+ Vùng hông lốp bên trái bánh trước đoạn từ dòng chữ 70/9017 đến D352 có vết va chạm hướng từ ngoài vào tâm làm sơ su, sạch bụi kích thước (27x4)cm.

+ Bánh lốp trước bị di lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ phải sang trái.

+ Manh chắn gió bên trái bị vỡ nứt nhựa kích thước (38x6) cm, điểm thấp nhất cách đất 20 cm, điểm cao nhất cách đất 58 cm.

+ Đoạn trước đầu tay cầm lái bên trái người điều khiển bị cọ sát làm sơ su kích thước (2x2) cm.

+ Đoạn trước bên trái ốp nhựa trước tay lái (đoạn trên đèn tín hiệu chuyển hướng trái) có vết trượt nhựa làm bong sơn, lộ nhựa mới kích thước (4,5x2,5)cm.

+ Đầu gác để chân bên trái người điều khiển xe bị cọ sát làm sơ su lộ kim loại.

+ Mặt ngoài bên trái tay cầm dắt sau xe bị cọ sát trầy xướt kim loại kích thước (10x2)cm.

+ Đầu ốc lục giác hệ thống phanh gắn bên trái trục bánh trước có vết trầy xước kim loại hướng từ trước về sau kích thước (01x02)cm, điểm giữa cách đất 30cm.

- Đối với xe mô tô BKS 43S8-2958:

+ Ông xả khói (ống giảm thanh) bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu đồng thời đoạn cuối dưới ống xả khói có vết va chạm hướng từ sau về trước làm móp lún kim loại kích thước (12x4)cm.

+ Đoạn ½ dưới sau ốp bảo vệ ống xả khói có vết va chạm hướng từ sau về trước dính lại vết màu đen khuyết kim loại kích thước (34x5) cm.

+ Mặt ngoài đoạn giữa bên phải chắn bùn bánh sau có vết va chạm làm sạch bụi, sơ nhựa hướng từ trái sang phải kích thước (7x3) cm.

+ Gác để chân bên phải người ngồi sau bị gãy rời khỏi vị trí.

+ Mặt ngoài bên phải chân đạp phanh bị cọ sát làm lộ kim loại mới.

+ Đầu tay cầm lái bên phải người điều khiển bị cọ sát làm sơ su kích thước (3,5x3) cm.

+ Chắn bùn bánh trước bị di lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ phải sang trái.

+ Mặt ngoài bên phải áp nhựa trước tay lái bị cọ sát làm sơ nhữa kích thước (8x3) cm.

Bản Kết luận giám định số 65/GĐ-CH ngày 10/11/2020 của phòng Kỹ Thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Phần bánh trước bên trái xe mô tô BKS 43R1-4772 va chạm với mặt ngoài đuôi ốp kim loại bảo vệ ống xả khói (ống giảm thanh) của xe mô tô BKS 43S8-2958. Mặt trước thanh phuộc giảm sốc và ống nhựa sát trên phuộc giảm sốc, ốc bắt trục và phanh bên trái bánh trước xe mô tô BKS 43R1-4772 va chạm với cạnh sau – dưới đuôi ống xả khói của xe mô tô BKS 43S8-2958.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Tường V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên.

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 43R1-4772 cho bà Trần Thị Diệu L1 và trả xe môtô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 43S8-2958 cho ông Lưu Quốc S.

* Về dân sự: Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Ngọc A là chị Lưu Gia L2 (sinh năm 1997; trú tại: K464 H15/52 đường Trường Chinh, phường Hòa An, quận Thanh Khê , thành phố Đà Nẵng – là con ruột của chị Nguyễn Thị Ngọc A) yêu cầu Nguyễn Thị Tường V bồi thường số tiền 500.000.000 đồng. Trong đó: chi phí điều trị và sửa xe là 76.000.000 đồng, dự kiến chi phí điều trị tiếp theo là 50.000.000 đồng, thiệt hại do tổn thất tinh thần và hỗ trợ nuôi dưỡng Nguyễn Thị Ngọc A là 374.000.000 đồng. Hiện nay, Nguyễn Thị Tường V cùng gia đình đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bà A số tiền 79.562.000 đồng. Chị L2 tiếp tục yêu cầu bồi thường số tiền còn lại.

Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 02 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Nguyễn Thị Tường V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tường V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tường V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

+ Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tường V từ 15 đến 21 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 43R1-4772 cho bà Trần Thị Diệu L1 và trả xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 43S8-2958 cho ông Lưu Quốc S là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra truy tố thì đại diện người bị hại là chị Lưu Gia L2, là con của bà Nguyễn Thị Ngọc A yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải bồi thường tổng cộng số tiền 500.000.000 đồng; Tại phiên tòa hôm nay, đại diện người bị hại và bị cáo thỏa thuận số tiền bị cáo V phải bồi thường cho người bị hại tổng cộng số tiền 200.000.000 đồng, bị cáo V đã bồi thường được số tiền 79.562.000 đồng, số tiền bị cáo V còn phải bồi thường cho bị hại là 120.438.000 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của đại diện của bị hại và bị cáo về số tiền bị cáo V phải bồi thường nêu trên và buộc bị cáo V phải tiếp tục bồi thường cho bị hại là bà Nguyễn Thị Ngọc A số tiền 120.438.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị Tường V không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện theo uỷ quyền của người bị hại không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Nguyễn Thị Tường V nói lời sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, khi vụ tai nạn xảy ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần tiền thuốc men cho người bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được lao động để có tiền bồi thường tiếp số tiền còn phải thanh toán cho người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh đối với bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; lời khai của người làm chứng; đối chiếu với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông; biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông; kết luận giám định pháp y về thương tích; kết luận giám định các dấu vết đối với phương tiện tham gia giao thông cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 13/7/2020, tại trước nhà số 275 đường Trường Chinh, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Thị Tường V không có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe môtô biển kiểm soát 43R1-4772 có dung tích xilanh 110 cm3 đến điểm giao nhau có đèn vàng nhấp nháy và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ không giảm tốc độ không chú ý quan sát nên đã tông vào ống xả khói của xe môtô BKS 43S8-2958 do bà Nguyễn Thị Ngọc A điều khiển chạy phía trước cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả: Bà Nguyễn Thị Ngọc A bị thương tích và đưa vào bệnh viện để cấp cứu. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 213/TgT ngày 16/9/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế thành phố Đà Nẵng kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Ngọc A do thương tích gây nên hiện tại là 68%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Tường V đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 02 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V là thanh niên có tuổi đời còn trẻ, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ các quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; điểm c khoản 3 Điều 10; khoản 4 Điều 11 của Luật giao thông đường bộ năm 2008; vi phạm khoản 2 Điều 5 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, dẫn đến tông vào bà Nguyễn Thị Ngọc A và hậu quả là bà A bị thương tích với tỷ lệ 68%; hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác; bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định; vi phạm quy định về khoảng cách an toàn đối với phương tiện khi tham gia giao thông. Do đó phải xử lý nghiêm, mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội,

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi gây tai nạn bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại một phần cho gia đình người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị cáo từ năm 2013 đến năm 2018 là hộ nghèo tại địa phương, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; việc phạm tội là do lỗi vô ý, cẩu thả. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe, phù hợp với Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của bị hại là chị Lưu Gia L2 (là con gái của bà Nguyễn Thị Ngọc A) và bị cáo Nguyễn Thị Tường V đã thỏa thuận thống với nhau về việc bị cáo V phải chịu chi phí điều trị cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất; thu nhập thực tế bị mất…cho người bị hại với tổng số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), bị cáo Nguyễn Thị Tường V đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thị Ngọc A với số tiền 79.562.000 đồng, số tiền bị cáo V phải tiếp tục bồi thường là 120.438.000đ (một trăm hai mươi triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận của đại diện theo ủy quyền của người bị hại và bị cáo V là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận nêu trên, buộc bị cáo V phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền chưa thanh toán.

Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 43R1-4772 cho bà Trần Thị Diệu L1 và trả xe môtô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 43S8-2958 cho ông Lưu Quốc S là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo V là quá nghiêm khắc, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lao động, cải tạo và tu dưỡng, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.

Đối với bà Trần Thị Diệu L1 là chủ sở hữu xe mô tô BKS 43R1-4772, bà Liên không biết việc bị cáo Nguyễn Thị Tường V lấy xe trong tình trạng không có giấy phép lái xe và gây tai nạn nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý đối với bà Liên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe môtô theo quy định của bà Trần Thị Diệu L1 và ông Lưu Quốc S, Cơ quan Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xử lý hành chính bằng thức phạt tiền là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ vào Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tường V 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15 tháng 3 năm 2021.

Tuyên giao bị cáo Nguyễn Thị Tường V về Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Tường V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc A số tiền 120.438.000đ (Một trăm hai mươi triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

+ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

+ Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Tường V phải chịu 6.021.900đ (sáu triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, chín trăm đồng).

4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. (Đã giải thích chế định án treo theo khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự)

Cỡ chữ