vanban.org

Bản án 32/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 25/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt: [3]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ S - TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2021/HS-ST
Ngày 16/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S - TỈNH L

-THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Huấn và ông Đỗ Trọng Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thị xã S, tỉnh L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Lồ Kim Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16/11/2021, tại Hội trường nH văn hóa tổ 1, phường S, thị xã S, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thái B (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 19 tháng 3 năm 1962, tại huyện Điện B, tỉnh Điện B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 27, phường C, tHnh phố L, tỉnh L; Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 2, phường P, thị xã S, tỉnh L; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và con bà Bùi Thị N, Sinh năm 1942, hiện trú tại tổ 1, phường S, thị xã S, tỉnh L; Vợ là: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1965, trú tại tổ 27, phường C, tHnh phố L, tỉnh L (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 1993; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

+ Tại bản án số 31/HSST ngày 27/8/1999, Tòa án nhân dân thị xã L tuyên phạt Nguyễn Thái B 24 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 20.000.000 đồng, án phí 50.000 đồng. Nguyễn Thái B đã chấp Hnh xong hình phạt tù, đến ngày 09/7/2015 chấp Hnh xong án phí, tiền phạt của bản án, đến nay Nguyễn Thái B đã được xóa án tích.

+ Tại Quyết định số 1290/QĐ.UBND ngày 24/4/2006 của UBND tHnh phố L quyết định đưa Nguyễn Thái B đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh

- Giáo dục - Lao động xã hội tHnh phố L với thời hạn 12 tháng kể từ ngày 25/4/2006. Đến ngày 23/4/2007 Nguyễn Thái B đã chấp Hnh xong thời gian cai nghiện bắt buộc, tính đến thời điểm phạm tội lần này Nguyễn Thái B đã được xóa tiền sự.

+ Tại Quyết định số 352/QĐ-UBND ngày 17/02/2012 của UBND tHnh phố L quyết định đưa Nguyễn Thái B đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tHnh phố L với thời hạn 12 tháng kể từ ngày 22/02/2012. Đến ngày 22/02/2013 Nguyễn Thái B đã chấp Hnh xong thời gian cai nghiện bắt buộc, tính đến thời điểm phạm tội lần này Nguyễn Thái B đã được xóa tiền sự.

+ Tại bản án số 56/2015/HSST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân tHnh phố T, tỉnh T phạt Nguyễn Thái B 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” án phí 200.000 đồng. Ngày 15/6/2015 chấp Hnh xong án phí, ngày 24/01/2017 chấp Hnh xong hình phạt tù, đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại NH tạm giữ Công an thị xã S, tỉnh L - Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Tổ 1, phường S, thị xã S, tỉnh L - Có mặt.

- Người chứng kiến: 1. Ông Đoàn Ngọc A - Sinh năm 1956; Nơi cư trú: Tổ 7, phường S, thị xã S, tỉnh L - Vắng mặt; 2. Ông Phạm Văn C - Sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ 2, phường P, thị xã S, tỉnh L - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 30 phút ngày 24/7/2021, tại tổ 2, phường S, thị xã S, tỉnh L, tổ công tác của Công an thị xã S phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thái B có Hnh vi cất giấu trong chiếc khẩu trang của B đang đeo trên mặt 03 gói ma túy loại Hêroine có tổng trọng lượng 0,21 gam. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thái B tại tổ 2, phường P, thị xã S phát hiện, thu giữ 01 gói ma túy loại Heroine có trọng lượng 0,08 gam tại đáy giá nhựa màu đen ở chuồng chó cạnh cửa ra vào và 01 gói ma túy loại Heroine có trọng lượng 2,26 gam tại vị trí dưới chân cột sắt trong nH vệ sinh.

Quá trình điều tra Nguyễn Thái B khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/7/2021, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen BKS 24B2-113.78 đi từ phòng trọ của mình tại tổ 2, phường P, thị xã S đến khu vực thôn Cát Cát, xã Hoàng Liên, thị xã S mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây B gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông mặc quần áo dân tộc Mông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa Heroine với giá 2.500.000 đồng. Mua được ma túy B mang về phòng trọ của mình và chia nhỏ ra để tiện cho việc sử dụng. B chia một phần trong tổng số ma túy mình vừa mua tHnh 04 phần cho vào 04 tờ giấy trắng gói lại, lấy nilon xanh bọc bên ngoài mỗi gói rồi dùng bật lửa đốt để dán kín. B cất gói nilon chứa ma túy mình vừa mua được vào chân cột sắt trong nH vệ sinh, cất 01 gói nhỏ vừa chia vào đấy khay màu đen ở chuồng chó cạnh cửa nH, còn 03 gói nhỏ cầm theo mình để tiện sử dụng. Đến sáng ngày 24/7/2021 khi đang mang theo 03 gói nhỏ đến khu vực Chợ mới S để mua thức ăn thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt giữ.

Tại Kết luận giám định số 204/GĐMT ngày 27/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: 0,21 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng trong 03 gói giấy trắng được bọc ngoài bằng lớp nilon màu xanh thu giữ của Nguyễn Thái B gửi giám định là chất ma túy Heroine; 0,08 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng trong 01 gói giấy trắng được bọc ngoài bằng lớp nilon màu xanh thu giữ của Nguyễn Thái B là loại chất ma túy Heroine; 2,26 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng trong 01 gói nilon màu xanh thu giữ của Nguyễn Thái B là loại chất ma túy Heroine. Cơ quan giám định đã trích mẫu và sử dụng hết 0,24 gam, hoàn lại cơ quan trưng cầu 2,31 gam.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSSP ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh L, truy tố bị cáo Nguyễn Thái B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thái B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm năm tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/7/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về Hnh vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thái B đã tHnh khẩn khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: B bản bắt người phạm tội quả tang; B bản khám xét nơi ở của Nguyễn Thái B; B bản niêm phong đồ vật tạm giữ; B bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Bản kết luận giám định số 204/GĐMT ngày 27/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L; Các B bản xác minh; B bản xét nghiệm chất ma túy; Bản tự khai, B bản ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 35 ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã S. Bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 01/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh L, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 24/7/2021, tại tổ 2, phường S, thị xã S, tỉnh L, bị cáo Nguyễn Thái B đã thực hiện Hnh vi tàng trữ 2,55 gam là loại chất ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện bắt giữ. Hnh vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thái B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nH nước. Bị cáo nhận thức được Hnh vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp Hnh pháp luật và bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã thực hiện Hnh vi phạm tội. Hnh vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của NH nước đối với các chất ma túy nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân thị xã L xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân tHnh phố T, tỉnh T xử phạt Nguyễn Thái B 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo Nguyễn Thái B đã được xóa án tích. Tại Quyết định số 1290/QĐ.UBND ngày 24/4/2006 của UBND tHnh phố L quyết định đưa Nguyễn Thái B đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tHnh phố L với thời hạn 12 tháng kể từ ngày 25/4/2006. Đến ngày 23/4/2007 Nguyễn Thái B đã chấp Hnh xong thời gian cai nghiện bắt buộc, tính đến thời điểm phạm tội lần này Nguyễn Thái B đã được xóa tiền sự. Tại Quyết định số 352/QĐ-UBND ngày 17/02/2012 của UBND tHnh phố L quyết định đưa Nguyễn Thái B đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tHnh phố L với thời hạn 12 tháng kể từ ngày 22/02/2012. Đến ngày 22/02/2013 Nguyễn Thái B đã chấp Hnh xong thời gian cai nghiện bắt buộc, tính đến thời điểm phạm tội lần này Nguyễn Thái B đã được xóa tiền sự. Tuy nhiên bị cáo đã không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện Hnh vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo có bố để là ông Nguyễn Văn Q được NH nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Nguyễn Thái B cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ Hnh vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ Hnh vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như gia cảnh của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở tHnh người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Song xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 2,55 gam là loại chất ma túy Heroine thu giữ trong vụ án. Sau khi giám định, cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,24 gam Heroine, còn lại sau giám định là 2,31 gam, đây là vật chứng của vụ án NH nước cấm lưu Hnh nên cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ đen BKS 24B2-113.78 quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Thế T, anh T cho bị cáo mượn xe để phục vụ việc đi lại cá nhân, không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy. Ngày 13/9/2021 Cơ quan điều tra đã ban Hnh quyết định xử lý vật chứng số 30 và trả lại xe mô tô nói trên cho chủ sở hữu là Nguyễn Thế T, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt chính là phù hợp với tính chất, Hnh vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với Hnh vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái B phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái B 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/7/2021.

[3]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L trên một mặt của bì niêm phong ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thái B ngày 24/7/2021 tại tổ 2, phường S, thị xã S, tỉnh L”. Bên trong có chứa 0,14 gam Heroin (Mẫu M1), 01 khẩu trang y tế màu xanh, các mảnh giấy màu trắng, các mảnh nilon màu xanh, các túi đứng mẫu và niêm phong cũ.

- 01 (Một) bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L trên một mặt của bì niêm phong ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Thái B ngày 24/7/2021 tại tổ 2, phường S, thị xã S, tỉnh L”. Bên trong có chứa 2,17 gam Heroin (Mẫu M2 và M3), các mảnh giấy màu trắng, các mảnh nilon màu xanh, các túi đứng mẫu và niêm phong cũ.

Theo B bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã S với Chi cục Thi Hnh án dân sự thị xã S ngày 15/11/2021.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thái B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án.

Cỡ chữ