vanban.org

Bản án 32/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 28/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

1 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị C phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 32/2021/HS-ST
Ngày: 28/06/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Long.

2. Ông Nguyễn Đinh Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/2021/TLST-HS, ngày 05 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo :

1/ Bùi Thị C, sinh năm 1977; tại: xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp Phú Thọ, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Th (chết) và bà Phạm Tuyết M; có chồng là Hoàng Thắng Tvà 02 con lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền sự: không; tiền án: không. Nhân thân: Bị tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội đánh bạc tại bản án số 29/2009/HSPT ngày 06/3/2009.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/01/2021 đến ngày 01/02/2021 được cho tại ngoại. Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2/ Huỳnh Thị H, sinh năm 1981; tại: huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Khóm 5, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Huỳnh Thị H ; có chồng là Trần Văn D E và 02 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền sự: không; tiền án: không. Nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, xử lý vi phạm hành C, xử lý kỷ luật đã được xóa.

Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: ấp An Hội, xã Tân An Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Nguyễn Hồng Th, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Thọ, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

4/Trịnh Hoàng B, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Thọ, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

5/Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp An Hội, xã Tân An Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

6/ Trịnh Xuân Th, sinh năm 1971(vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Thạnh B, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

7/La Văn H, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Thọ, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

8/Nguyễn Thị Kim Nh, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

9/ Bùi Ngọc Th, sinh năm 1952 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

10/ Bùi Thị T, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Quới, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thấy việc bán số đề và thầu số đề (số đầu, số đuôi và bao lô) có thu nhập cao nên từ ngày 13 tháng 01 năm 2021 Bùi Thị C bắt đầu bán số đề cho nhiều người, hình thức bán số đề là người mua số đề trực tiếp gặp bị cáo mua hoặc nhắn tin, gọi điện thoại trực tiếp vào số máy điện thoại của bị cáo để mua và bị cáo ghi âm lại rồi ghi lại phơi đề. Sau khi có kết quả xổ số nếu người mua trúng hoặc không trúng số đề sẽ trực tiếp đến gặp bị cáo để nhận tiền và trả tiền mua số. Hình thức ăn thua là 01 ăn 70 (số đầu, số đuôi và bao lô 02 con số) và 01 ăn 600 (bao lô 03 con số). Đến khoảng 15 giờ ngày 23/01/2021, bị cáo Bùi Thị C đang ngồi sao chép số đề từ tin nhắn và ghi âm điện thoại ra phơi đề bán cho Nguyễn Thị Kim Nh, Huỳnh Thị H, Trịnh Hoàng B, Nguyễn Hồng Th, Nguyễn Thị Th, Nguyễn Thị Cẩm H, Đặng Trung H tại nhà của bà Phạm Tuyết M là mẹ ruột C thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít bắt quả tang.

Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:

- 01 (một) phơi đề kích thước 33cm x 27,5cm, có các chữ số mực màu đỏ.

- 01 (một) cây viết bích mực màu đỏ.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số sim: 8401160251425191, số thuê bao 0772158552.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng đồng (không gắn sim).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C2, màu đỏ, số sim: 8401191192155281 (đã bị C dùng búa đập vỡ).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số sim: 8984048000076498792, số thuê bao 0985871239 (đã bị C dùng búa đập vỡ).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim Viettel: 8894048000016521405 và số sim Mobifone: 8401200293227685, (đã bị C dùng búa đập vỡ).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen không có sim, bộ phận nguồn đã bị hỏng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng, số sim: 8401180192376395 và số thuê bao: 0789511707.

- 01 (một) cây búa dài 50cm, cán bằng gỗ và lưỡi búa bằng kim loại.

- Tiền Việt Nam đồng: 558.000.000 đồng.

Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã thu giữ các điện thoại di động của các đối tượng có liên quan:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1202, màu đỏ đen, số sơ ri: 351103/28/000137/6, số thuê bao: 0704796486 của Trịnh Xuân Thắng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đỏ đen, số thuê bao: 0368283907 của La Văn Hậu.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M228, màu đen, số thuê bao: 0988825691 của Nguyễn Hồng Thụy.

Ngày 27/01/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mang Thít đã ra Quyết định trưng cầu giám định yêu cầu khôi phục, trích xuất dữ liệu trên các điện thoại: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C2, màu đỏ, số sim: 840119/192155281 (đã bị C dùng búa đập vỡ), (ký hiệu A1) và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim Viettel: 8894048000016521405 và số sim Mobifone: 8401200293227685, (đã bị C dùng búa đập vỡ) (ký hiệu A2). Tại bản kết luận giám định số: 875/C09B ngày 09/3/2021 của Phân viên khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh kết luận như sau:

1. Trích xuất toàn bộ dữ liệu lưu trong các Sim gắn kem điện thoại cần giám định ký hiệu A1, A2. Chi tiết dữ liệu lưu trong đĩa CD-R kèm theo Kết luận giám định này.

2. Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu lưu trong 02 điện thoại cần giám định ký hiệu A1, A2.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh được vào ngày 23/01/2021 bị cáo Bùi Thị C đã bán số đề cho những người cụ thể như sau:

01/ Nguyễn Thị Cẩm Hồng dùng điện thoại di động có số thuê bao 0778118632 nhắn tin qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (số đầu, số đuôi và bao lô) qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 2.001.000đ (Hai triệu không trăm lẽ một nghìn đồng).

02/ Nguyễn Hồng Thdùng điện thoại di động có số thuê bao 0988825691 nhắn tin qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (bao lô) qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 1.155.000đ (Một triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

03/ Nguyễn Thị Th dùng điện thoại di động có số thuê bao 0984595578 nhắn tin qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (bao lô) qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 2.045.000đ (Hai triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

04/ Trịnh Hoàng B dùng điện thoại di động có số thuê bao 0333324970 nhắn tin qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (bao lô) qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 3.960.000đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

05/ Nguyễn Thị Ng dùng điện thoại di động có số thuê bao 0869770056 nhắn tin qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (số đầu, số đuôi và bao lô) qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 1.340.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

06/ Trịnh Xuân Th dùng điện thoại di động có số thuê bao 0704296486 gọi điện thoại trực tiếp qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (bao lô) và được ghi âm lại qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 630.000đ (Sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

07/ La Văn H dùng điện thoại di động có số thuê bao 0368283907 gọi điện thoại trực tiếp qua số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (bao lô) và được ghi âm lại qua 02 đài: TP. Hồ Chí Minh và Long An, với số tiền: 720.000đ (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

08/ Nguyễn Thị Kim Nh dùng điện thoại di động có số thuê bao 0766816495 gọi điện thoại trực tiếp qua số thuê bao 0772158552 của bị cáo C để mua số đề (số đầu, số đuôi và bao lô) và được ghi ra phơi đề qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 1.873.000đ (Một triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng).

09/ Huỳnh Thị H dùng điện thoại di động có số thuê bao 0799581665 gọi điện thoại trực tiếp qua số thuê bao 0772158552 của bị cáo C để giao số đề và mua số đề (bao lô) và được ghi ra phơi đề qua 04 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 8.331.000đ (Tám triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

Trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Mang Thít đã chứng minh vào ngày 23/01/2021 Huỳnh Thị H đã bán số đề cho những người cụ thể như sau:

01/ Bùi Ngọc Th gặp H ở chợ Nhơn Phú nên trực tiếp mua số đề (số đầu và số đuôi), qua đài TP. Hồ Chí Minh và Hậu Giang với số tiền: 330.000đ (Ba trăm ba mươi ngàn đồng) và được H ghi ra phơi đề, sau đó giao lại số đề trên cho Bùi Thị C.

02/ Bùi Thị T gặp H ở chợ Nhơn Phú nên trực tiếp mua số đề (bao lô), qua 03 đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An và Bình Phước với số tiền: 450.000đ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) và được H ghi ra phơi đề, sau đó giao lại số đề trên cho Bùi Thị C.

Tổng số tiền Huỳnh Thị H bán số đề vào ngày 23/01/2021 và giao lại cho Bùi Thị C là 780.000 đồng.

Do thời điểm bắt quả tang chưa có kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh: Long An, Bình Phước, Hậu Giang và TP. Hồ Chí Minh, nên không xem xét đối chiếu với kết quả xổ số để xử lý Bùi Thị C và Huỳnh Thị H.

Như vậy, tổng số tiền mà Bùi Thị C đã bán số đề vào ngày 23/01/2021 là 22.055.000 đồng và tổng số tiền Huỳnh Thị H giao số đề và mua số đề vào ngày 23/01/2021 là 8.331.000 đồng (bao gồm số tiền 7.551.000 đồng mua số đề của bị cáo C)

Ngày 01/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Thị C và Huỳnh Thị H về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Về tang vật và đồ vật thu giữ:

- 01 (một) phơi đề kích thước 33cm x 27,5cm, có các chữ số mực màu đỏ và 01 (một) cây viết bích mực màu đỏ dùng để ghi và sao chép số đề từ tin nhắn và ghi âm điện thoại ra phơi đề. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh là tài sản của Bùi Thị C đây là tang vật và công cụ dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số sim: 8401160251425191, số thuê bao 0772158552; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số sim: 8984048000076498792, số thuê bao 0985871239 (đã bị C dùng búa đập vỡ); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1202, màu đen, số sơ ri: 351103/28/000137/6, số thuê bao: 0704796486; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đỏ đen, số thuê bao: 0368283907; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M228, màu đen, số thuê bao: 0988825691. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh là tài sản của Bùi Thị C, Trịnh Xuân Thắng, La Văn Hậu và Nguyễn Hồng Thụy đây là phương tiện dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim Viettel: 8894048000016521405 và số sim Mobifone: 8401200293227685, (đã bị C dùng búa đập vỡ); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen không có sim, bộ phận nguồn đã bị hỏng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng, số sim: 8401180192376395 và số thuê bao: 0789511707; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng đồng (không gắn sim) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C2, màu đỏ, số sim: 8401191192155281 (đã bị C dùng búa đập vỡ). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh là tài sản của Bùi Thị C, các điện thoại trên không có liên quan đến vụ án, tuy nhiên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- 01 (một) cây búa dài 50cm, cán bằng gỗ và lưỡi búa bằng kim loại dùng để đập vỡ các điện thoại di động. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh là tài sản của bị cáo Bùi Thị C có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Tiền Việt Nam đồng: 558.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh là tài sản của bị cáo Bùi Thị C, trong đó 404.000.000 đồng là tiền mua bán đất, 154.000.000 đồng là tiền hốt hụi, số tiền trên không có liên quan đến vụ án, tuy nhiên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Bùi Thị C khai nhận bắt đầu bán số đề vào ngày 13 tháng 01 năm 2021 và bán số đề liên tục, đến ngày 23/01/2021 thì bị bắt quả tang. Trong thời gian bán số đề bị cáo có sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để làm vốn trả thưởng cho người mua trúng và thu lợi bất C được số tiền là 10.000.000 đồng. Hiện nay bị cáo C đã nộp lại số tiền 15.000.000 đồng bằng cách khấu trừ vào tiền tạm giữ. Đây là tiền làm vốn và thu lợi bất C từ việc bán số đề nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Bị cáo Huỳnh Thị H khai nhận bắt đầu bán số đề vào ngày 20 tháng 01 năm 2021 và bán số đề liên tục, đến ngày 23/01/2021 thì bị phát hiện và mời làm việc. Hình thức bán số đề là người mua số đề gặp trực tiếp bị cáo mua, bị cáo ghi ra tờ giấy, sau đó điện thoại giao số đề lại cho bị cáo C. Trong thời gian bán số đề bị cáo không có sử dụng tiền để làm vốn trả thưởng cho người mua mà giao số đề lại để nhận tiền hoa hồng, khi bị phát hiện thì bị cáo đã thu lợi bất C được số tiền là 600.000 đồng. Hiện nay Huỳnh Thị H đã nộp lại xong ngày 15/3/2021.

Vào ngày 23/01/2021 Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Nguyễn Hồng Thụy, Nguyễn Thị Thủy, Trịnh Hoàng Bứa, Nguyễn Thị Ngọc, Trịnh Xuân Thắng, La Văn Hậu, Nguyễn Thị Kim Nhân và Huỳnh Thị H đã mua số đề của bị cáo C với tổng số tiền là 22.055.000 đồng nhưng chưa có trả tiền nên trách nhiệm hiện nay của 09 người này phải nộp lại số tiền nêu trên. Hiện nay bị cáo Huỳnh Thị H nộp lại số tiền 8.331.000 đồng, Trịnh Hoàng Bứa nộp lại số tiền 3.960.000 đồng, Nguyễn Thị Kim Nhân nộp lại số tiền 1.873.000 đồng và Nguyễn Thị Thủy nộp lại số tiền 2.045.000 đồng đã nộp lại xong. Còn lại Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Nguyễn Thị Ngọc, Trịnh Xuân Thắng, La Văn Hậu và Nguyễn Hồng Thụy chưa nộp. Tổng số tiền các đối tượng đã nộp lại là 16.209.000 đồng, đây là tiền dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Đối với các đối tượng Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Nguyễn Hồng Thụy, Nguyễn Thị Thủy, Trịnh Hoàng Bứa, Nguyễn Thị Ngọc, Trịnh Xuân Thắng, La Văn Hậu, Nguyễn Thị Kim Nhân hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã xử phạt vi phạm hành C theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Đặng Trung H, sinh năm: 1979, nơi cư trú: ấp An Hội, xã Tân An Hội, huyện Mang Thít gặp trực tiếp bị cáo C mua số đề (bao lô), qua đài TP. Hồ Chí Minh với số tiền: 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và được bị cáo C ghi ra phơi đề Tên HAI. Qua làm việc với anh Hài và bị cáo C không thừa nhận hành vi mua bán số đề của mình nên không có cơ sở để xử lý bị cáo C đối với số tiền trên.

Đối với số thuê bao số 0337880230 đã nhắn tin vào số thuê bao 0985871239 của bị cáo C để mua số đề (bao lô) qua 02 đài: Bình Phước và Hậu Giang, với số tiền: 1.260.000đ (Một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Qua quá trình điều tra không chứng minh được số thuê bao trên là của ai và bị cáo C cũng không thừa nhận bán số đề cho số thuê bao này nên không có cơ sở để xử lý bị cáo C đối với số tiền trên.

Quá trình điều tra vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS.HMT, ngày 29 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Bùi Thị C, Huỳnh Thị H phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia xét xử phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo và phát biểu nội dung luận tội, khẳng định cáo trạng truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và đề nghị áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Bùi Thị C phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thị C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo C từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Đề nghị áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo H từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo do các bị cáo không có thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46,47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch Thu tiêu hủy: 01 (một) cây viết bis mực màu đỏ, 01 (một) cây búa dài 50cm, cán bằng gỗ và lưỡi búa bằng kim loại và các sim số 772158552; 0985871239; 0704796486; 0988825691; 0368283907. Tịch thu sung quỹ số tiền dùng để đánh bạc và thu lợi bất C của các bị cáo: 31.809.000 đồng và tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số sim: 8401160251425191; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số sim: 8984048000076498792; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1202, màu đen, số sơ ri: 351103/28/000137/6; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M228, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đỏ đen. Đối với số tiền 543.000.000 đồng đã tạm giữ còn lại của bị cáo C xét thấy không có liên quan đến vụ án đề nghị trả lại cho bị cáo tuy nhiên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim Viettel: 8894048000016521405 và số sim Mobifone: 8401200293227685, (đã bị C dùng búa đập vỡ); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen không có sim, bộ phận nguồn đã bị hỏng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng, số sim: 8401180192376395 và số thuê bao: 0789511707; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng đồng (không gắn sim) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C2, màu đỏ, số sim: 8401191192155281 (đã bị C dùng búa đập vỡ).

Buộc các đương sự Nguyễn Thị Cẩm H nộp lại số tiền 2.001.000đ; Nguyễn Thị Ngọc nộp lại số tiền 1.340.000đ; Trịnh Xuân Thắng nộp lại số tiền 630.000đ; La Văn Hậu nộp lại số tiền 720.000đ; Nguyễn Hồng Thụy nộp lại số tiền 1.155.000đ.

Các bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, chứng minh được các hành vi, quyết định tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thị C, Huỳnh Thị H đã khai nhận: Ngày 13 tháng 01 năm 2021 Bùi Thị C bắt đầu bán số đề cho nhiều người không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể. Đến ngày 23/01/2021 Bùi Thị C bán số đề cho Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Nguyễn Hồng Thụy, Nguyễn Thị Thủy, Trịnh Hoàng Bứa, Nguyễn Thị Ngọc, Trịnh Xuân Thắng, La Văn Hậu, Nguyễn Thị Kim Nhân và Huỳnh Thị H dựa vào kết quả xổ số các đài: TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang, với tổng số tiền đánh bạc là 22.055.000 đồng. Trong số những người C đã bán số đề thì có Huỳnh Thị H đã giao số đề và mua số đề với số tiền 8.331.000 đồng. Xét, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với bản kết luận điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo C và bị cáo H đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành nên tội “ Đánh bạc”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo Bùi Thị C, Huỳnh Thị H phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ: Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, các bị cáo không tích cực lao động để có thu nhập hợp pháp mà dùng hình thức “Đánh bạc” để tước đoạt tiền của người khác một cách trái pháp luật. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp của …vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này không để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ và tài sản của công dân,…cần nên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Thị C, bị cáo Huỳnh Thị H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Do đó xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong vụ án này có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giải đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công, giao việc trước và các bị cáo đều giữ vai trò là người thực hiện hành vi.

Về vật chứng : Áp dụng Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) phơi đề có các chữ số mực màu đỏ;

- Tịch Thu tiêu hủy: 01 (một) cây viết bis mực màu đỏ, 01 (một) cây búa dài 50cm, cán bằng gỗ và lưỡi búa bằng kim loại và các sim số 772158552; 0985871239; 0704796486; 0988825691; 0368283907.

- Tịch thu sung quỹ số tiền dùng để đánh bạc và thu lợi bất C của các bị cáo: 31.809.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số sim: 8401160251425191; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số sim: 8984048000076498792; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1202, màu đen, số sơ ri: 351103/28/000137/6; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M228, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đỏ đen. Đối với số tiền 543.000.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo C xét thấy không có liên quan đến vụ án tuyên trả lại cho bị cáo tuy nhiên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo C 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim Viettel: 8894048000016521405 và số sim Mobifone: 8401200293227685, (đã bị C dùng búa đập vỡ); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen không có sim, bộ phận nguồn đã bị hỏng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng, số sim: 8401180192376395 và số thuê bao: 0789511707; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng đồng (không gắn sim) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C2, màu đỏ, số sim: 8401191192155281.

Buộc Nguyễn Thị Cẩm H nộp lại số tiền 2.001.000đ, Nguyễn Thị Ng nộp lại số tiền 1.340.000đ, Trịnh Xuân Th nộp lại số tiền 630.000đ, La Văn H nộp lại số tiền 720.000đ, Nguyễn Hồng Th nộp lại số tiền 1.155.000đ.

Xét, đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố bị cáo Bùi Thị C phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được bản án và quyết định thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 24/01/2021 đến ngày 01/02/2021 tương đương 24 ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Bùi Thị C cho Ủy ban nhân dân xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với gia đình bị cáo giám sát và giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo C do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị C nộp 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

1.2 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Huỳnh Thị H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với gia đình bị cáo giám sát và giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Thị H nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

2. Về vật chứng : Áp dụng Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) phơi đề có các chữ số mực màu đỏ;

- Tịch Thu tiêu hủy: 01 (một) cây viết bis mực màu đỏ, 01 (một) cây búa dài 50cm, cán bằng gỗ và lưỡi búa bằng kim loại và các sim số 772158552; 0985871239; 0704796486; 0988825691; 0368283907.

- Tịch thu sung quỹ số tiền dùng để đánh bạc và thu lợi bất C của các bị cáo: 31.809.000 đồng (Trong đó: 15.000.000 đồng tiền thu lợi bất C từ bị cáo C, 600.000 đồng tiền thu lợi bất C từ bị cáo H, 16.209.000 đồng gồm tiền đánh bạc của bị cáo H, đương sự Trịnh Hoàng Bứa, Nguyễn Thị Kim Nh, Nguyễn Thị Th); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số sim: 8401160251425191; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số sim: 8984048000076498792; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1202, màu đen, số sơ ri: 351103/28/000137/6; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell M228, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell, màu đỏ đen. Đối với số tiền 543.000.000 đồng đã tạm giữ còn lại của bị cáo C xét thấy không có liên quan đến vụ án tuyên trả lại cho bị cáo C tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo C 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số sim Viettel: 8894048000016521405 và số sim Mobifone: 8401200293227685, (đã bị C dùng búa đập vỡ); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen không có sim, bộ phận nguồn đã bị hỏng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng, số sim: 8401180192376395 và số thuê bao: 0789511707; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng đồng (không gắn sim) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia C2, màu đỏ, số sim: 8401191192155281.

Buộc Nguyễn Thị Cẩm Hồng nộp lại số tiền 2.001.000đ, Nguyễn Thị Ng nộp lại số tiền 1.340.000đ, Trịnh Xuân Th nộp lại số tiền 630.000đ, La Văn H nộp lại số tiền 720.000đ, Nguyễn Hồng Th nộp lại số tiền 1.155.000đ sung vào ngân sách nhà nước. (Hiện tất cả các vật chứng trên đều do chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quan lý theo biên lai thu tiền số 0003962 ngày 13/5/2021 và ủy nhiệm chi ngày 13/05/2021, biên lai giao nhận vật chứng ngày 07/05/2021).

3. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Bùi Thị C, Huỳnh Thị H mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ