- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HS-ST Ngày: 10-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Việt Hùng;
2. Ông Mai Thanh Tùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1959 (đã chết) và con bà Bùi Thị P, sinh năm 1958; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ ba; có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 1984 và có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04-02-2021 đến 11-02-2021 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. “có mặt”
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1930 (mẹ đẻ bị hại); địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1969; “vắng mặt”
2. Chị Cao Thị H, sinh năm 1972; “có mặt”
3. Chị Đinh Thị H, sinh năm 1984; “có mặt”
4. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; “vắng mặt”
5. Ông Nguyễn Khánh C, sinh năm 1960, “vắng mặt”
6. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963, “có mặt”
7. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965, “vắng mặt”
8. Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1953, “vắng mặt”
9. Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1959, “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04-02-2021, Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 18N1-8142 đi trên Quốc lộ 21 theo hướng từ thị trấn Th đến xã H, huyện H. Khi đến khu vực ngã 3 thuộc xóm X, xã H, huyện H, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã xô vào bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 ở xóm Cô, xã H, huyện H đang dắt xe đạp đi bộ sang đường. H u quả: bà L tử vong tại chỗ. Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn T đã đến Công an huyện H, đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường khắc phục h u quả cho gia đình bà Nguyễn Thị L số tiền 80.000.000đồng. Đại diện gia đình bà L không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Khám nghiệm hiện trường một số dấu vết chính sau: (Hiện trường không còn nguyện vẹn)
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên Quốc lộ 21 tại ngã 3 chợ thuộc xóm X, xã H, huyện H. Hướng khám nghiệm thị trấn T đến xã H. Mặt đường Quốc lộ rộng 8m30, lề trái rộng 1m40, lề phải rộng 1m90, tâm đường cách lề trái 4m15. Phần đường dành cho xe thô sơ bên trái rộng 1m15, bên phải rộng 1m20. Đường vào xóm X, xã H có độ mở 17m50, đường rộng 7m50. Điểm mốc là tâm cửa hàng tạp hóa nhà ông Trần Nam T1, ở xóm X, xã H ở phía trái đường theo hướng khám nghiệm. Mép đường chuẩn là mép bên trái đường theo hướng khám nghiệm.
Vị trí xe ô tô BKS 18N - 8142: đầu xe chếch hướng phải đường, hướng xã H; đuôi xe chếch hướng trái đường, hướng thị trấn T. Chiều dài cơ sở xe (trục trước - sau) 3m10; chiều ngang 02m. Đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn 2m75, cách mốc 3m95. Đầu trục ngoài bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn 1m68.
Vị trí xe đạp đ nghiêng trái trên mặt đường, đầu hướng xã H, đuôi hướng thị trấn T. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn 4m30, cách mốc 6m90. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn 4m40. ( ên xe trùng với lốp ngoài bánh sau bên phải, tay xe n m giữa 02 lốp xe phía sau bên phải xe ô tô).
Nạn nhân được xác định là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 ở xóm C, xã Hả huyện H, tỉnh Nam Định. Nạn nhân n m ngửa, đầu hướng thị trấn T, chếch hướng phải đường (dưới gầm xe tải), chân hướng xã H, chếch hướng trái đường. Tâm điểm đầu cách mép đường chuẩn 2m50. Khoảng giữa 2 chân cách mép đường chuẩn 1m70, cách mốc 5m20.
Khám nghiệm phương tiện:
- Xe ô tô Biển kiểm soát 18N - 8142:
Lưới tản nhiệt bị tuột khỏi chốt hãm. Bên phải ốp nhựa bảo vệ lưới tản nhiệt bị nứt vỡ dài 14cm, tâm cách thành xe bên phải 45cm, cách mặt đất 102cm. Bên phải ba đờ sóc phía trước có vết cào xước sơn, không rõ chiều hướng, trong diện (16 x 6)cm, tâm cách mặt đất 77cm, cách thành xe bên phải 32cm. Mặt trước trục cầu xe phía trước có vết chùi bụi trong diện (10 x 4)cm, tâm cách thành xe bên phải 82cm, cách mặt đất 28cm. Bên phải biển số phía trước có vết mài trượt màu đen chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, trong diện (5 x 5)cm, tâm cách thành xe bên phải 82cm, cách mặt đất 82cm. Mặt trong bánh ngoài bánh sau bên trái có bám dính chất màu đỏ (nghi là máu) trong diện (18 x 9)cm, tâm cách chân van 26cm cùng chiều kim đồng hồ. Mặt ngoài bánh trong bánh sau bên trái có bám dính chất màu đỏ (nghi là máu) trong diện (40x15)cm, tâm cách chân van 34cm cùng chiều kim đồng hồ. Đèn xi nhan trước sau bên phải bị hỏng, không hoạt động. Hệ thống phanh hãm, còi, đèn chiếu sáng, xin nhan trước sau bên trái, gương, lốp đảm bảo.
Tại Công văn số 03/2021/18-03D ngày 13-4-2021 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Nam Định 18-03D kết lu n: Số khung, số máy đúng theo đăng ký; Công đoạn: kiểm tra điện, đèn nh n dạng; kiểm tra thân vỏ, buồng lái, thùng hàng; kiểm tra phanh; kiểm tra khung gầm không đạt. Phương tiện là xe tải ben có niên hạn sử dụng đến năm 2035. Phương tiện bỏ kiểm định từ ngày 24-6-2016, tại thời điểm xảy ra tai nạn xe không được phép tham gia giao thông. Phương tiện 18N - 8142 không thỏa mãn quy định về an toàn kỹ thu t và bảo vệ môi trường.
- Xe đạp nhãn hiệu GIANT màu xan đen:
Mặt ngoài ốp cao su bảo vệ tay lái bên trái có vết cào xước trong diện (13x2)cm, tâm cách mặt đất 106cm. Ốp nhựa gắn tay phanh với tay lái bên trái bị nứt vỡ trong diện (6 x 2,5)cm, tâm cách mắt đất 102cm. Toàn bộ nắp chuông xe gắn trên tay lái bên trái bị lún bẹp, cào xước nham nhở không rõ chiều hướng, lộ ánh kim. Mặt ngoài đầu núm tay phanh bên trái có vết cào xước lộ ánh kim trong diện (3,5 x 0,5)cm. Mặt trong tay ghi đông có bám dính chất thô màu trắng trong diện (7 x 3), tâm cách đầu núm tay nắm lái bên trái 27cm, cách mặt đất 107cm. Mặt trong tay lái và tay phanh bên phải bám dính chất màu đen (dầu nhớt) trong diện (16x10)cm. Pốt trăng bị cong g p chiều hướng từ sau về trước một góc 250, trên bề mặt bám dính chất màu đen (dầu nhớt) và chất thô màu trắng. Chắn bùn phía trước bị cong méo biến dạng…
Tại bản kết lu n giám định pháp y về tử thi số 10/21/TT ngày 10-3-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết lu n: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị L là đa chấn thương; Chấn thương đầu, mặt; gãy cung tiếp xương gò má trái; chấn thương lồng ngực; gãy phức tạp hầu hết các xương sườn cung trước và cung bên trái làm lồng ngực biến dạng.
Tại bản kết lu n định giá về tài sản số 14/KL- HĐĐG ngày 09-4-2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết lu n: Trị giá thiệt hại của xe đạp màu xanh nhãn hiệu GIANT là 200.000đồng
Cáo trạng số 28/CT-VKSHH ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ lu t Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nh n hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn trình bày: Sự việc xảy ra có một phần trách nhiệm thuộc gia đình, bà L không có chồng, con là người bị thiểu năng từ nhỏ và được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, ngày hôm đó gia đình không quản lý chặt đã để bà L đi ra ngoài. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cùng gia đình đã đến thăm hỏi động viên, lo mai táng và khắc phục bồi thường 80.000.000đ nên về trách nhiệm dân sự gia đình bà không yêu cầu gì thêm. Về việc xử lý hình sự đối với bị cáo, bà và gia đình đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì sự việc xảy ra ngoài ý muốn.
- Ông Nguyễn Văn T1 là anh trai của bị hại có ý kiến: Bà Nguyễn Thị T vì lý do công việc nên không tham gia phiên tòa. Ông T1 đại diện gia đình đến tham dự phiên tòa mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Tuấn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải H u thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ lu t Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Hgiám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt b sung đối với bị cáo. Về xử lý v t chứng: Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 18N - 8142 thu giữ của bị cáo, qua xác minh là tài sản hợp pháp của bị cáo nên đề nghị hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.
Phần tranh lu n tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh lu n gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xác nh n Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo xin được cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bà D, bà T, ông C, ông T, bà D1, bà D2, ông H, ông T1 đã được Tòa án triệu t p hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó căn cứ Điều 292, 293 Bộ lu t tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Lời khai nh n của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, bản giám định pháp y; lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng; biên bản thu giữ và trao trả v t chứng và các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như v y, có đủ cơ sở kết lu n: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04-02-2021, Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 18N - 8142 chở v t liệu xây dựng đi trên Quốc lộ 21 theo hướng từ thị trấn T đến xã Hả, huyện H. Khi đến khu vực ngã 3 thuộc xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, bị cáo không tuân thủ các quy tắc giao thông, sử dụng xe ô tô không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thu t và bảo vệ môi trường, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã xô vào bà Nguyễn Thị L đang dắt xe đạp đi bộ sang đường. H u quả: bà L tử vong tại chỗ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ lu t Hình sự, như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp lu t.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đủ khả năng nh n thức được r ng, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, nếu không tuân thủ đúng quy định của pháp lu t về giao thông đường bộ thì sẽ dễ gây ra tai nạn dẫn đến h u quả và hệ lụy khôn lường; Quá trình điều khiển xe ô tô bị cáo không có giấy phép lái xe, sử dụng xe ô tô không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thu t và bảo vệ môi trường. Trong khi điều khiển xe ô tô khi đến khu vực ngã 3 bị cáo không chú ý quan sát trên đường, giảm tốc độ nên đã gây ra tai nạn, xô vào bà L, h u quả làm bà L ngã và bị tử vong là vi phạm quy định tại khoản 4, 9 Điều 8 và khoản 4 Điều 11 Lu t giao thông đường bộ. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sự an toàn của các phương tiện tham giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp lu t bảo vệ và gây mất tr t tự trị an xã hội, cần xử lý nh m trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo và gia đình cũng đã đến động viên, thăm hỏi và cùng gia đình bị hại lo t chức mai táng cho bị hại và đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000đ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhân thân tốt, từ trước tới nay luôn chấp hành tốt chính sách pháp lu t và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét hoàn cảnh gia đình có bố mất sớm cũng như bản thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thấy cần cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp lu t không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ lu t hình sự cũng đảm bảo mục đích của hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình bà Nguyễn Thị L số tiền 80.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần dân sự. Đối với thiệt hại về tài sản: Nguyễn Văn T đã gây thiệt hại chiếc xe đạp màu xanh nhãn hiệu GIANT của bị hại là 200.000đồng. Sau khi nh n lại xe đại diện gia đình bị hại tự khắc phục h u quả, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do đó về trách nhiệm dân sự không đề c p giải quyết.
Về v t chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 18N - 8142. Quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn T, nên cần trả lại cho T quản lý, sử dụng là phù hợp pháp lu t.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ lu t Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 04-02-2021 đến ngày 11-02-2021).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Lu t thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ lu t tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh N đối với bị cáo Nguyễn Văn T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11 ngày 11 tháng 02 năm 2021.
2. Về xử lý v t chứng:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 ô tô tải ben biển kiểm soát 18N - 8142 nhãn hiệu Cửu Long.
(Tài sản nêu trên được mô tả như biên bản giao nh n v t chứng ngày 04-5-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H).
3. Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện HP của bị hại; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Vp. | THẨM PHÁN- CHỦ TO PHI N TOÀ Phạm Thúy Nga |