- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tòn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/HS-ST Ngày 20/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doanh Thị Mây
Các Hội thẩm nhân dân
Ông Nông Văn Nguyên
Bà Dương Thị Lầu
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Mã Hùng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 đối với:
Bị cáo Đặng Tòn L. (Tên gọi khác: Đặng Chiều C)
Sinh ngày 13 tháng 5 năm 1998
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm LV, xã ĐP, huyện BL, tỉnh Cao Bằng;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đặng Chòi V, sinh năm 1967 và con bà Đặng Mùi N, sinh năm 1962; Vợ Hoàng Mùi S, sinh năm 1997; Con có 02 (Hai) con: con lớn nhất sinh năm 2015 và con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án; Tiền sự; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, sau đó tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng từ ngày 22/5/2021 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Triệu Bằng Giang - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Mùi S, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm LV, xã ĐP, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/5/2021, tổ công tác Công an xã Đình Phùng, Bảo Lạc, Cao Bằng đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm BC, xã ĐP tiến hành kiểm tra hành chính đối với Đặng Tòn L, sinh năm 1998, trú tại LV, xã ĐP, BL, Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong ví da màu nâu ở túi quần phía sau bên phải của Đặng Tòn L có 03 (Ba) gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi Heroine) và một số giấy tờ cá nhân khác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa L về trụ sở làm việc. Cùng ngày, Công an xã Đình Phùng đã bàn giao người và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc để tiếp tục xử lý.
Sau khi tiếp nhận, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Tòn L, tại LV, ĐP, BL, Cao Bằng. Qua khám xét, không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đặng Tòn L khai nhận toàn bộ số chất bột màu trắng mà Công an thu giữ là ma túy loại Heroine, mục đích L mua để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên là L mua với một người phụ nữ tên C, khoảng 40 tuổi (Qua xác minh, người này tên Lý Mùi C, sinh năm 1982, nhà ở BC, ĐP, BL, Cao Bằng) vào khoảng 04 giờ sáng ngày 22/5/2021, địa điểm tại nhà của C, số lượng 03 (Ba) gói nhỏ ma túy với số tiền 300.000 đồng, hình thức trao tay trực tiếp, mua xong L lên đồi thuộc xóm BC để ngủ, đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày khi đang trên đường về thì bị bắt quả tang cùng số ma túy. Nguồn gốc số tiền L dùng để mua ma túy là vào ngày 20/5/2021, L lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K của vợ là Hoàng Mùi S đi cầm cố ở cửa hàng sửa chữa điện thoại của Lương Quang N tại LP, xã HG. Do có quen biết từ trước với N và L nói điện thoại của vợ nên N đồng ý cho L cầm cố chiếc điện thoại trên với số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi có tiền, L sử dụng chi tiêu cá nhân và mua 300.000 đồng ma túy với C, số còn lại 250.000 đồng bị tạm giữ khi bắt quả tang. Ngoài lần mua ma túy với C ngày 22/5/2021, L khai nhận trước đó được mua ma túy với C 02 (Hai) lần, vào khoảng tháng 05/2021, không nhớ ngày cụ thể, để bản thân sử dụng. Cả 03 (Ba) lần mua bán ma túy chỉ có L và C giao dịch với nhau, ngoài ra không có ai biết và tham gia cùng.
Hồi 17 giờ 00 ngày 22/5/2021, Cơ quan điều tra cùng các thành phần chức năng tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng vụ án, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại. Kết quả số chất bột màu trắng phát hiện, thu giữ trong ví da trên người của Đặng Tòn L có khối lượng 0,26g (Không phẩy hai mươi sáu gam). Tại Bản kết luận giám định số: 182/GĐMT ngày 31/5/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine. (Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, STT 09, Danh mục I, Nghị định số: 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Mùi S khai nhận: Bà là vợ của Đặng Tòn L quá trình chung sống bà biết chồng nghiện ma túy. Ngày 22/5/2021 chồng bà bị bắt, trước khi bị bắt chồng bà có cầm theo một số tài sản của bà gồm: Một điện thoại di động chồng bà đã đem cầm cố và bà đã chuộc lại. Nay bà yêu cầu được trả lại một chứng minh nhân dân, một Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe mô tô, xe gắn máy, một Giấy đăng ký mô tô xe máy đều mang tên Hoàng Mùi S. Bà yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với Lý Mùi C, sinh năm 1982, trú tại BC, xã ĐP, huyện BL, tỉnh Cao Bằng là người Đặng Tòn L khai nhận được mua ma túy vào ngày 22/5/2021 và hai lần trước đó. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của L, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh C bán ma túy cho L, vì vậy không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự Lý Mùi C.
Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKSBL ngày 29/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Đặng Tòn L (tên gọi khác: Đặng Chiều C) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Tòn L theo như bản Cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đặng Tòn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị khung hình phạt đối với bị cáo Đặng Tòn L từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong mặt trước ghi “Phần để lại tang vật vụ Đặng Tòn L, sinh năm 1998, tạm trú tại LV, ĐP, BL, Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 22/5/2021 tại BC, ĐP, BL, Cao Bằng”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và được đóng dấu giáp lai ở 4 góc phong bì. Mẫu dấu của Công an huyện Bảo Lạc; Một ví da màu nâu có chữ D&G (cũ, đã qua sử dụng)
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Mùi S: Một chứng minh nhân dân; Một Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe mô tô, xe gắn máy; Một Giấy đăng ký mô tô xe máy đều mang tên Hoàng Mùi S.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. Đề nghị tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Ông Triệu Bằng Giang - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng trình bày quan điểm: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nhất trí với Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn có những hạn chế nhất định trong suy nghĩ và nhận thức. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo ăn năn hối lỗi, mặc dù sử dụng và lệ thuộc vào ma túy nhưng quá trình sinh sống tại địa phương luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nơi cư trú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo và ăn năn hối lỗi về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.
Đối với vật chứng vụ án, nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo Đặng Tòn L không có lời bào chữa bổ sung, thừa nhận hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Đặng Tòn L (tên gọi khác: Đặng Chiều C) thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc truy tố là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Bản thân bị cáo là người sử dụng và lệ thuộc vào ma túy, bị cáo đã trực tiếp mua ma túy về để sử dụng. Cụ thể: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 22/5/2021 tại xóm BC, xã ĐP, huyện BL, tỉnh Cao Bằng, Đặng Tòn L bị bắt quả tang đang cất giấu 0,26g (Không phẩy hai mươi sáu gam) Heroine bên trong ví da màu nâu, ở túi quần phía sau bên phải đang mặc trên người. Số Heroine trên L để sử dụng cho bản thân.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015.
"Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…; b)…;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Như vậy, hành vi của bị cáo Đặng Tòn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Đặng Tòn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Đặng Tòn L (tên gọi khác: Đặng Chiều C) là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên tại xã ĐP, huyện BL, tỉnh Cao Bằng. được học hết lớp 9/12 rồi bỏ học, đã xây dựng gia đình riêng, có vợ, có con. Tuổi còn trẻ nhưng lười lao động, không chịu khó tu dưỡng rèn luyện mà sa ngã vào tệ nạn xã hội, bản thân sử dụng và lệ thuộc vào ma túy dẫn đến hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện, làm phức tạp thêm tình hình tội phạm ở địa phương.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Tòn L hợp tác với Cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Tình tiết tăng nặng không có. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng:
- Một phong bì niêm phong mặt trước ghi “Phần để lại tang vật vụ Đặng Tòn L, sinh năm 1998, tạm trú tại LV, ĐP, BL, Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 22/5/2021 tại BC, ĐP, BL, Cao Bằng”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và được đóng dấu giáp lai ở 4 góc phong bì. Mẫu dấu của Công an huyện Bảo Lạc; Một ví da màu nâu có chữ D&G (cũ, đã qua sử dụng), xét cần tịch thu, tiêu hủy.
- Một chứng minh nhân dân; Một Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe mô tô, xe gắn máy; Một Giấy đăng ký mô tô xe máy đều mang tên Hoàng Mùi S là giấy tờ cá nhân của Hoàng Mùi S không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét cần trả lại cho bà S.
- Số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, không liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy, xét cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo Đặng Tòn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Đặng Tòn L (tên gọi khác: Đặng Chiều C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Đặng Tòn L (tên gọi khác: Đặng Chiều C) 15 (Mười năm) tháng tù, thời gian thụ hình được tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 22/5/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong mặt trước ghi “Phần để lại tang vật vụ Đặng Tòn Liu, sinh năm 1998, trú tại LV, ĐP, BL, Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 22/5/2021 tại BC, ĐP, BL, Cao Bằng”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và được đóng dấu giáp lai ở 4 góc phong bì. Mẫu dấu của Công an huyện Bảo Lạc; Một ví da màu nâu có chữ D&G (cũ, đã qua sử dụng)
- Trả lại cho bà Hoàng Mùi S, trú tại xóm LV, xã ĐP, huyện BL, tỉnh Cao Bằng: Một Chứng minh nhân dân; Một Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe mô tô, xe gắn máy; Một Giấy đăng ký mô tô xe máy đều mang tên Hoàng Mùi S
- Trả lại cho bị cáo số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Toàn bộ số vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 35 ngày 30/8/2021.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Tòn L (tên gọi khác: Đặng Chiều C) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp công quỹ nhà nước.
Án xử sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Nhà tạm giữ ; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Đình Phùng, huyện Bảo Lạc - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DOANH THỊ MÂY |