vanban.org

Bản án 32/2021/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 29/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thiết bị đã qua sử dụng: 01 Máy cuốn 3 trục 2.

[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Tn yêu cầu ông Nguyễn Văn Qu trả các tài sản sau: Kéo cắt đột bằng tay cũ; Máy cắt liên hợp cũ; Máy phát điện làm xăng cũ; Máy hàn điện 650A cũ; Máy hàn điện 500A cũ; Máy tiện 2.5m cũ; Máy tiện 1.8m cũ; Máy tiện 2.7m cũ; Máy phây 0.9m cũ; Bàn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Đòi tài sản"
  • Tòa quyết gì? Thiết bị đã qua sử dụng: 01 Máy cuốn 3 trục 2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 32 / 2021 / DS-ST
Ngày: 29 - 10 - 2021
V/v tranh chấp dân sự về đòi
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Hoa Hường;

2. Ông Lê Châu Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Ls, Thư ký Toà án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2019/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp dân sự đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2021/QĐXX-ST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2021/QĐST-DS ngày 29/9/2021, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Tn, sinh năm 1958; địa chỉ: xxx khóm 3, phường XYA, thành phố K, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hồng Xz, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ 14, ấp An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 86/CTCK Quyển số 01-SCT/CK, ĐC ngày 10/6/2020 do UBND thị trấn An Phú, huyện An Phú lập).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Qu, sinh năm 1971; địa chỉ: xxx khóm 3, phường XYA, thành phố K, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Qu: Luật sư Lương Tường Ls, Luật sư Công ty XYZ thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn BĐ, sinh năm 1976, nơi cư trú: khóm 3, phường XYA, thành phố K. Ông Tn, ông Qu, ông Hồng Xz, luật sư Ls, ông BĐ có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Văn Tn trình bày: Ông làm nghề xưởng tiện từ trước năm 1975. Gia đình ông cũng có một Cơ sở gia công cơ khí tọa lạc số XXX, phường XYA, thành phố K, tỉnh An Giang. Đất nhà xưởng là của cha mẹ, nên giấy phép kinh doanh trước đây do mẹ ông (UM) đứng tên, nhưng thực tế mọi hoạt động kinh doanh là do ông trực tiếp quản lý. Quá trình kinh doanh tại xưởng, ông có mua thiết bị máy móc phế liệu về chế tạo lại, một số ông mua máy cũ của người khác. Nguyễn Văn Qu là em ruột cùng làm chung với ông trong nhà xưởng. Đến năm 2016, do lớn tuổi nên bà Mun để Nguyễn Văn Qu đứng tên Giấy phép kinh doanh, việc Qu đứng tên kinh doanh là trên danh nghĩa, thực tế toàn bộ máy móc, thiết bị đều do ông bỏ tiền ra mua để phục vụ công việc kinh doanh. Đến giữa năm 2019, ông Qu lợi dụng việc đứng tên kinh doanh đuổi ông ra khỏi cơ sở kinh doanh, chiếm giữ hết tất cả các máy móc, thiết bị đồ nghề kinh doanh của ông gồm nhà xưởng và 26 thiết bị máy móc. Do đó, ông yêu cầu ông Qu trả lại nhà xưởng (N 19.6m x d42m, N24m x d11m) và các thiết bị máy móc như sau:

- Thiết bị tự chế: Máy cuốn 3 trục 1.55m x 1 cái; Máy cuốn 3 trục 3.2m x 1 cái (chỉ có 3 trục); Máy cuốn thép hình 3 trục x 2 cái; Máy ép thủy lực x 1 cái;

- Thiết bị đã qua sử dụng: Máy cuốn 3 trục 2.2m; Máy cắt liên hợp VNSX; Máy bao ngang; Kéo cắt đột bằng tay; Máy cắt liên hợp; Máy phát điện làm xăng; Máy phát điện dầu cũ; Máy phát điện dầu cũ; Cổng trục 5 tấn; Máy khoan bàn 13 cái; Máy dập cơ 2 cái; Máy hàn điện 650A; Máy hàn điện 500A; Máy hàn điện cơ 8 cái; Máy hàn điện Míc 350A; Máy cắt Plasma 60A; Máy hàn Inverter 350A; Máy tiện 2.5m; Máy tiện 1.8m; Máy tiện 2.7m; Máy tiện 1.6m; Máy phây 0.9m; Bàn ép thủy lực tay; Máy cắt sắt rừa điện; Máy cắt sắt rừa điện cũ; Máy bơm 5HP. Ngày 27/4/2021, ông Tn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nhà xưởng. Chứng cứ ông Tn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu:

- Giấy xác nhận của Bành Quốc Minh, Phạm Trung Chánh, Nguyễn Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Qu, Huỳnh Văn Lự, Võ Văn Trúc, Huỳnh Văn Be, Lưu Tấn Đức, Nguyễn Trung Thu, Nguyễn Thành Đặng, Thái Văn Minh, Cửa hàng Dũng – Sĩ (Bản phô tô);

- Bản ý kiến của Thủy, Thu, Tuyết, Sơn, BĐ ngày 26/4/2021;

- Cung cấp hình ảnh các thiết bị, máy móc tại thời điểm ông Tn và ông Qu phát sinh mâu thuẫn; hình ảnh thiết bị máy móc tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.

- Theo các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn Qu trình bày: Ông là chủ cơ sở kinh doanh tên Nguyễn Văn Qu tại số XXX, phường XYA, thành phố K, tỉnh An Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 52B8011306 ngày 04/01/2016 do Phòng Tài chính kế hoạch thành phố K cấp.

Ông là người quản lý và điều hành hộ kinh doanh này do mẹ ông đứng tên từ năm 1998. Đến năm 2016, do mẹ già sức yếu nên mẹ ông cho ông tòan bộ cơ sở kinh doanh này, mẹ ông đồng ý thay đổi giấy phép kinh doanh qua tên ông. Ông đã kinh doanh ổn định, không tranh chấp với ai, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ.

Trong thời gian ông kinh doanh, ông có cho anh ruột là Nguyễn Văn Tn vào cơ sở ông mượn máy móc, thiết bị để làm, vì ông Tn có nhận đồ bên ngoài gia công. Đến ngày 03/6/2019 ông không cho ông Tn vào làm nữa với lý do ông Tn có hành động gây khó khăn cho ông và các anh em thợ của ông.

Các tài sản trong xưởng là của mẹ ông cho, ông yêu cầu ông Tn xuất trình các chứng từ hóa đơn hợp pháp chứng minh tài sản của ông Tn. Do đó, ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tn.

Ông Nguyễn Văn Qu cung cấp chứng cứ:

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 52B8011306 ngày 04/01/2016 do Phòng Tài chính kế hoạch thành phố K cấp cho Nguyễn Văn Qu (Bản phô tô);

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 52B8013832 ngày 04/6/2019 do Phòng Tài chính kế hoạch thành phố K cấp cho Nguyễn Văn Tn (Bản phô tô);

- Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của Nguyễn Thị UM ((Bản phô tô);

- Hóa đơn tiền điện của Nguyễn Thị UM (Bản phô tô);

- Giấy xác nhận địa điểm kinh doanh hợp pháp của Nguyễn Văn Qu ngày 26/6/2019 (có xác nhận của UBND phường XYA) (Bản phô tô);

- Tường trình về việc ông Nguyễn Văn Tn hủy hoại tài sản ngày 06/6/2019 ((Bản phô tô);

- Biên bản hòa giải ban khóm 7 giữa Nguyễn Văn Qu và Nguyễn Văn Tn ngày 27/6/2019 (Bản phô tô);

- Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước (Bản phô tô);

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thu thập chứng cứ:

- Xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.

+ Về xem xét, thẩm định tại chỗ: Các thiết bị theo bản kê khai do ông Tn cung cấp và yêu cầu định giá thể hiện thiếu một số thiết bị được nêu và không có, cụ thể: Số 14, số 24, số 25; đối với số thứ tự 09 (thiếu 5 tấm 02 mô tô chạy rây); + Biên bản định giá ngày 15/9/2020 như sau: STT

Giá thành

Ghi chú

Thiết bị tự chế

1 Máy cuốn 3 trục 1.55m x 16.000.000 1 cái 2 Máy cuốn 3 trục 3.2m x 1 6.000.000 cái (chỉ có 3 trục) 3 Máy cuốn thép hình 3 trục 24.000.000 x 2 cái 4 Máy ép thủy lực x 1 cái

12.000.000

Thiết bị đã qua sử dụng

1 Máy cuốn 3 trục 2.2m cũ 16.000.000 2 Máy cắt liên hợp VNSX

16.000.000

3 Máy bao ngang cũ

11.000.000

4 Kéo cắt đột bằng tay cũ

2.400.000

5 Máy cắt liên hợp cũ

16.000.000

6 Máy phát điện làm xăng 4.800.000 cũ 7 Máy phát điện dầu cũ

4.800.000

8 Máy phát điện dầu cũ

Không có 9 Cổng trực 5 tấn cũ

Thiếu linh kiện nên không định

giá được 10 Máy khoan bàn 13 cái cũ 9.000.000

6 máy 11 Máy dập cơ 2 cái cũ

40.000.000

12 Máy hàn điện 650A cũ

4.000.000

13 Máy hàn điện 500A cũ

3.000.000

14 Máy hàn điện cơ 8 cái cũ

Không có 15 Máy hàn điện Míc 350A

Không có

cũ 16

Máy cắt Plasma 60A

Không có 17

Máy hàn Inverter 350A

5.000.000

18

Máy tiện 2.5m cũ

15.000.000

19

Máy tiện 1.8m cũ

10.000.000

20

Máy tiện 2.7m cũ

5.000.000

21

Máy tiện 1.6m cũ

5.000.000

22

Máy phây 0.9m cũ

3.000.000

23

Bàn ép thủy lực tay

2.000.000

2 cái 24

Máy cắt sắt rừa điện

Không có 25

Máy cắt sắt rừa điện cũ

Không có 26

Máy bơm 5HP

1.500.000

27

Nhà xưởng N 19.6m x 746.415.000 - Đơn giá: 2.619.000 đồng/m2.

d42m, N 24m x d 11m

- Tỷ lệ chất lượng còn lại: 50%.

- Diện tích: 570 m2

(Theo Quyết định số 10/2018/QĐ-

UBND của UBND tỉnh An

Giang).

Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 977.915.000 đồng.

- Những người làm chứng có lời khai như sau:

+ Bản ý kiến ngày 26/4/2021 của Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Văn BĐ cùng xác định, các ông bà là anh chị em ruột của ông Nguyễn Văn Tn và Nguyễn Văn Qu. Tất cả các máy móc mà ông Nguyễn Văn Tn khởi kiện là tài sản riêng của ông Tn, không phải là di sản thừa kế của cha mẹ để lại. Ngoài ra, bà Thu, bà Thủy, bà Tuyết, ông Sơn, ông BĐ có lời khai tại Tòa xác định, Tn và Qu, người nào chứng minh được tài sản thuộc sở hữu của mình thì trả cho người đó.

+ Nguyễn Hoàng Sơn xác định bán cho ông Tn 01 máy phát điện K15 năm 2009, giá 6.000.000 đồng; Nguyễn Đức Bảo bán cho ông Tn cổng trục 5 tấn và thiết bị kèm theo, giá 120.000.000 đồng vào tháng 2/2019; Huỳnh Văn Be có biết xí nghiệp có thanh lý cho ông Tn: 01 máy cuốn 3 trục dài 2,2m, 01 máy cắt liên hợp của Việt Nam, động cơ 5 HP, 01 máy bào ngang; Phạm Trung Chánh có bán cho Tn: Máy khoan không rõ số lượng, 02 máy dập cơ, 01 máy tiện dài khoảng 1,6m; Bành Quốc Minh có bán cho Tn: 01 máy hàn điện Mic 350A; 01 máy hàn Inverter 350, 01 máy cắt Plasma.

- Ban hành các Thông báo số 07, 08/TB-TA ngày 26/02/2021 yêu cầu ông Nguyễn Văn Tn, Nguyễn Văn Qu cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh tài sản thuộc sở hữu.

- Công văn số 1711/CCT-BC ngày 24/3/2021 của Chi cục thuế khu vực K – XYtrả lời về việc đăng ký thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế của ông Nguyễn Văn Tn và Nguyễn Văn Qu. Tòa án đã Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng không thành. Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với Nhà xưởng (N 19.6m x d42m, N 24m x d 11m); các thiết bị, máy móc gồm: Máy phát điện dầu cũ; Cổng trực 5 tấn cũ; Máy hàn điện cơ 8 cái cũ; Máy hàn điện Míc 350A cũ; Máy cắt Plasma 60A; Máy cắt sắt rừa điện; Máy cắt sắt rùa điện cũ. Các thiết bị, máy móc khác giữ nguyên yêu cầu đòi ông Qu trả lại.

- Bị đơn không đồng ý yêu cầu đòi tài sản của nguyên đơn.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lương Tường Ls phát biểu quan điểm: Đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì toàn bộ tài sản trong xưởng là do ông Nguyễn Văn Qu quản lý hợp pháp. Ông Tn cho rằng là tài sản của ông Tn thì phải đưa chứng cứ chứng minh quyền sở hữu tài sản, ông Qu là người đang quản lý tài sản, nên không có nghĩa vụ chứng minh.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: 1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: 1.1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định thẩm quyền thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. 1.2. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

2. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Theo đơn khởi kiện cùng với lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Văn Tn trình bày: Mẹ chúng tôi bà Nguyễn Thị UM có 1 xưởng cơ khí, số XXX, phường Chau Phú A, thành phố K, tỉnh An giang. Năm 2016, bà UM lớn tuổi nên để Nguyễn Văn Qu (em ruột Tn) đứng tên Giấy phép kinh doanh, thực tế Tn là người quản lý, đầu tư nhà xưởng và thiết bị. Năm 2019, Qu không cho Tn làm tại xưởng, Tn yêu cầu trả lại các thiết bị và giá trị nhà xưởng, trị giá 1.422.500.000 đồng. Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về giá trị nhà xưởng. Ông Tn yêu cầu đòi lại các tài sản sau:

- Thiết bị tự chế: Máy cuốn 3 trục 1.55m x 1 cái; Máy cuốn 3 trục 3.2m x 1 cái (chỉ có 3 trục); Máy cuốn thép hình 3 trục x 2 cái; Máy ép thủy lực x 1 cái;

- Thiết bị đã qua sử dụng: Máy cuốn 3 trục 2.2m; Máy cắt liên hợp VNSX; Máy bao ngang; Kéo cắt đột bằng tay; Máy cắt liên hợp; Máy phát điện làm xăng; Máy phát điện dầu; Máy phát điện dầu; Cổng trục 5 tấn; Máy khoan bàn 13 cái; Máy dập cơ 2 cái; Máy hàn điện 650A; Máy hàn điện 500A; Máy hàn điện cơ 8 cái; Máy hàn điện Míc 350A; Máy cắt Plasma 60A; Máy hàn Inverter 350A; Máy tiện 2.5m; Máy tiện 1.8m; Máy tiện 2.7m; Máy tiện 1.6m; Máy phây 0.9m; Bàn ép thủy lực tay; 02 Máy cắt sắt rừa điện; Máy bơm 5HP.

Ông Tn cung cấp hình ảnh các thiết bị, máy móc, trong đó không có các thiết bị sau: Máy phát điện dầu; Máy hàn điện cơ 8 cái cũ; Máy hàn điện Míc 350A; Máy cắt Plasma 60A; 02 Máy cắt sắt rừa điện. Tại phiên tòa, ông Tn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với các tài sản sau: 01 Máy phát điện dầu; 08 Máy hàn điện cơ; 01 Máy hàn điện Míc 350A; 01 Máy cắt Plasma 60A; 02 Máy cắt sắt rừa điện; 07 Máy khoan bàn; 01 cổng trục 5 tấn.

- Theo các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn Qu: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi các lý do sau: Qu đứng tên Giấy phép kinh doanh, đối với các thiết bị trong xưởng là của Qu, trong đó của mẹ cho: 01 kéo cắt sắt bằng tay; 02 máy hàn, 01 Eto, 01 cưa sắt bằng điện; 01 máy tiện, 01 máy khoan bàn; 01 bình đá hàn sắt, bị đơn không đồng ý cung cấp chứng cứ chứng minh các thiết bị trên thuộc sở hữu của mình.

- Kết quả thẩm định tại chỗ, định giá:

+ Thiết bị tự chế: Máy cuốn 3 trục 1.55m x 1 cái; Máy cuốn 3 trục 3.2m x 1 cái (chỉ có 3 trục); Máy cuốn thép hình 3 trục x 2 cái; Máy ép thủy lực x 1 cái.

+ Thiết bị đã qua sử dụng: Máy cuốn 3 trục 2.2m; Máy cắt liên hợp VNSX; Máy bao ngang; Kéo cắt đột bằng tay; Máy cắt liên hợp; Máy phát điện làm xăng; Máy phát điện dầu; Cổng trục 5 tấn; 06 Máy khoan bàn; Máy dập cơ 2 cái; Máy hàn điện 650A; Máy hàn điện 500A; Máy hàn Inverter 350A; Máy tiện 2.5m; Máy tiện 1.8m; Máy tiện 2.7m; Máy tiện 1.6m; Máy phay 0.9m; 02 Bàn ép thủy lực tay; Máy bơm 5HP.

- Những người làm chứng có lời khai như sau: Nguyễn Hoàng Sơn: Bán cho Tn 01 máy phát điện K15 năm 2009, giá 6.000.000 đồng. Nguyễn Đức Bảo: Bán cho Tn cổng trục 5 tấn và thiết bị kèm theo, giá 120.000.000 đồng vào tháng 2/2019. Huỳnh Văn Be: Be và Tn cùng làm chung tại Xí nghiệp cơ khí K, biết Xí nghiệp có thanh lý cho ông Tn: 01 máy cuốn 3 trục dài 2,2m; 01 máy cắt liên hợp của Việt Nam, động cơ 5 HP; 01 máy bào ngang. Phạm Trung Chánh: Năm 2012, có bán cho Tn: Máy khoan không rõ số lượng; 02 máy dập cơ; 01 máy tiện dài khoảng 1,6m. Bành Quốc Minh: Năm 2015, bán cho Tn: 01 máy hàn điện Mic 350A; 01 máy hàn Inverter 350; 01 máy cắt Plasma (thẩm định tại chỗ không có máy hàn điện Mic 350A; máy cắt Plasma). Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Văn BĐ: Bà Thủy, ông Sơn, ông BĐ là chị, em ruột của ông Tn, ông Qu. Ông Tn làm nghề cơ khí từ trước năm 1975, ông Qu phụ giúp gia đình và làm nghề cơ khí từ năm 1990 đến nay, ông Tn là người đầu tư các máy móc, thiết bị trong xưởng để kinh doanh. Chị em chúng tôi xác lập văn bản ý kiến ngày 26/4/2021, tuy nhiên Thủy, ông Sơn không xác định được nguồn gốc, đặc điểm máy móc, thiết bị mà ông Tn kiện đòi, riêng BĐ khai xác định được các máy móc do Tn kiện, vì BĐ thường vào xưởng mượn thiết bị để thi công, các thiết bị của Tn khởi kiện đặt ở khu vực riêng, Qu để riêng, khi cần mượn thiết bị nào thì hỏi mượn người đó. Sau khi BĐ được Tòa án cho xem ảnh thiết bị do nguyên đơn giao nộp, BĐ xác định các thiết bị trong ảnh là của Tn. Như vậy, lời khai của những người làm chứng Huỳnh Văn Be, Nguyễn Hoàng Sơn, Phạm Trung Chánh, Bành Quốc Minh phù hợp với lời khai của chị, em ruột các đương sự gồm Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Văn BĐ; kết quả thẩm định tại chỗ và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn giao trả cho nguyên đơn các loại tài sản sau: + Thiết bị tự chế: 01 Máy cuốn 3 trục 1.55m; 01 Máy cuốn 3 trục 3.2m (chỉ có 3 trục); 02 Máy cuốn thép hình 3 trục; 01 Máy ép thủy lực. + Thiết bị đã qua sử dụng: 01 Máy cuốn 3 trục 2.2m cũ; 01 Máy cắt liên hợp VNSX; 01 Máy bao ngang cũ; 01 Máy phát điện dầu cũ (K15); Máy khoan bàn (6 cái); 02 Máy dập cơ cũ; 01 Máy hàn Inverter 350A; 01 Máy tiện 1.6m cũ.

Đình chỉ một phần yêu cầu kiện của nguyên đơn đối với các tài sản sau: Nhà xưởng (N 19.6m x d42m, N 24m x d 11m); các thiết bị, máy móc gồm: Máy phát điện dầu cũ; Cổng trực 5 tấn cũ; Máy hàn điện cơ 8 cái cũ; Máy hàn điện Míc 350A cũ; Máy cắt Plasma 60A; Máy cắt sắt rừa điện; Máy cắt sắt rùa điện cũ

Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng,

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tài sản là các thiết bị, máy móc; bị đơn cư trú phường XYA, thành phố K. Xét, đây là tranh chấp dân sự đòi tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu thu thập chứng cứ của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ những người làm chứng. Tòa án triệu tập hợp lệ những người làm chứng ghi lời khai. Tuy nhiên chỉ có một số người cung cấp lời khai cho Tòa án. Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/10/2021, ông Tn xác định đã liên hệ với những người làm chứng được Tòa án triệu tập, nhưng họ không đến, ông không có ý kiến về vấn đề này.

Về nội dung,

Ông Nguyễn Văn Tn yêu cầu ông Nguyễn Văn Qu trả các thiết bị máy móc do ông tự chế và mua cũ về chế tạo lại sử dụng kinh doanh trong xưởng, bao gồm nhà xưởng và các thiết bị, máy móc. Quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa, ông Tn rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn Qu trả lại các thiết bị, máy móc sau:

- Thiết bị tự chế gồm: Máy cuốn 3 trục 1.55m x 1 cái; Máy cuốn 3 trục 3.2m x 1 cái (chỉ có 3 trục); Máy cuốn thép hình 3 trục x 2 cái; Máy ép thủy lực x 1 cái.

- Thiết bị đã qua sử dụng: Máy cuốn 3 trục 2.2m cũ; Máy cắt liên hợp VNSX; Máy bao ngang cũ; Kéo cắt đột bằng tay cũ; Máy cắt liên hợp cũ; Máy phát điện làm xăng cũ; Máy phát điện dầu cũ (K15); Máy khoan bàn 13 cái cũ (6 máy); Máy dập cơ 2 cái cũ; Máy hàn điện 650A cũ; Máy hàn điện 500A cũ; Máy hàn Inverter 350A; Máy tiện 2.5m cũ; Máy tiện 1.8m cũ; Máy tiện 2.7m cũ; Máy tiện 1.6m cũ; Máy phây 0.9m cũ; Bàn ép thủy lực tay (2 cái); Máy bơm 5HP. [4] Ông Qu không đồng ý yêu cầu của ông Tn mà cho rằng các tài sản trong xưởng là của mẹ ông cho, ông yêu cầu ông Tn xuất trình các chứng từ hóa đơn hợp pháp chứng minh tài sản của ông Tn. [5] Qua các chứng cứ do các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, thấy rằng: [6] Về tài sản tranh chấp: Các tài sản ông Tn yêu cầu tại phiên tòa hôm nay thực tế có trong xưởng do ông Nguyễn Văn Qu đang quản lý, đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét thẩm định và định giá tài sản; đồng thời ông Qu cũng xác nhận đang quản lý các tài sản này. Do đó, xác định tài sản ông Tn yêu cầu ông Qu trả, hiện do ông Nguyễn Văn Qu đang quản lý. [7] Trong vụ án này, cần xác định nghĩa vụ chứng minh của các đương sự như sau: [7.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tài sản là các thiết bị máy móc thì nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu của mình. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, nguyên đơn cung cấp các giấy xác nhận thể hiện việc nguyên đơn có mua các thiết bị, máy móc cũ về chế tạo lại sử dụng kinh doanh. Tại các biên bản ghi lời khai, ông Nguyễn Hoàng Sơn xác nhận có bán cho Tn 01 máy phát điện K15 năm 2009, giá 6.000.000 đồng; ông Nguyễn Đức Bảo xác nhận có bán cho ông Tn cổng trục 5 tấn và thiết bị kèm theo, giá 120.000.000 đồng vào tháng 2/2019; ông Huỳnh Văn Be xác nhận Be và ông Tn cùng làm chung tại Xí nghiệp cơ khí K, biết Xí nghiệp có thanh lý cho ông Tn: 01 máy cuốn 3 trục dài 2,2m; 01 máy cắt liên hợp của Việt Nam, động cơ 5 HP; 01 máy bào ngang; ông Phạm Trung Chánh xác nhận năm 2012, có bán cho Tn: Máy khoan không rõ số lượng; 02 máy dập cơ; 01 máy tiện dài khoảng 1,6m; ông Bành Quốc Minh xác nhận năm 2015, bán cho Tn: 01 máy hàn điện Mic 350A; 01 máy hàn Inverter 350; 01 máy cắt Plasma. Xét lời khai của những người làm chứng bán các thiết bị máy móc cho ông Tn phù hợp với các giấy xác nhận do ông Tn cung cấp, phù hợp với lời khai của các anh chị em ruột của ông Nguyễn Văn Tn, Nguyễn Văn Qu là bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Văn BĐ. Đồng thời, tại phiên tòa, qua xem các thiết bị máy móc qua ảnh chụp do ông Tn cung cấp, ông BĐ xác định các thiết bị máy móc này là của ông Tn, vì BĐ thường vào xưởng mượn thiết bị, máy móc để gia công, khi cần mượn thiết bị nào thì hỏi mượn người đó, thiết bị của Qu thì hỏi Qu, thiết bị của Tn thì hỏi Tn, thiết bị của cha mẹ thì BĐ không cần hỏi. Như vậy, qua các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ xác định ông Tn có mua một số thiết bị, máy móc cũ về sửa chữa, chế tạo lại để kinh doanh. Ông Tn đã chứng minh được quyền sở hữu của mình (mua hợp pháp của người khác). Do đó, nguyên đơn đã chứng minh được tính có căn cứ đối với các tài sản như (Thiết bị tự chế: 01 Máy cuốn 3 trục 1.55m; 01 Máy cuốn 3 trục 3.2m (chỉ có 3 trục); 02 Máy cuốn thép hình 3 trục; 01 Máy ép thủy lực. Thiết bị đã qua sử dụng: 01 Máy cuốn 3 trục 2.2m cũ; 01 Máy cắt liên hợp VNSX; 01 Máy bao ngang cũ; 01 Máy phát điện dầu cũ (K15); Máy khoan bàn (6 cái); 02 Máy dập cơ cũ; 01 Máy hàn Inverter 350A; 01 Máy tiện 1.6m cũ).

Bị đơn Ông Nguyễn Văn Qu cho rằng ông là người quản lý toàn bộ các thiết bị, máy móc trong xưởng, các tài sản này được mẹ ông cho. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án ban hành Thông báo yêu cầu ông Qu cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh các thiết bị, máy móc thuộc quyền sở hữu của ông hoặc chứng cứ xác định ông được mẹ ông tặng cho, tuy nhiên ông Qu không cung cấp được, mà cho rằng ông đang quản lý tài sản, ông không có nghĩa vụ chứng minh.

Theo Điều 158 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Quyền sở hữu: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật;

Điều 165 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

…

2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Ông Qu cho rằng ông đang quản lý tài sản này, ông không có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, quản lý không đồng nghĩa với việc sở hữu, do đó, theo quy định pháp luật, ông Qu phải có nghĩa vụ chứng minh ông là chủ sở hữu hoặc được chủ sở hữu ủy quyền cho quản lý tài sản. Quá trình giải quyết vụ án, ông Qu không chứng minh được các tài sản ông đang quản lý thuộc sở hữu của ông hoặc được chủ sở hữu ủy quyền. Do đó, không có căn cứ phản bác yêu cầu của nguyên đơn.

Từ phân tích mục 7, thấy rằng nguyên đơn có thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bị đơn không chứng minh được việc được quản lý tài sản là các thiết bị, máy móc có trong xưởng là do chủ sở hữu ủy quyền hoặc thuộc sở hữu của bị đơn.

Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Do đó chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với các tài sản ông Tn chứng minh được, cụ thể (Thiết bị tự chế: 01 Máy cuốn 3 trục 1.55m; 01 Máy cuốn 3 trục 3.2m (chỉ có 3 trục); 02 Máy cuốn thép hình 3 trục; 01 Máy ép thủy lực. Thiết bị đã qua sử dụng: 01 Máy cuốn 3 trục 2.2m cũ; 01 Máy cắt liên hợp VNSX; 01 Máy bao ngang cũ; 01 Máy phát điện dầu cũ (K15); Máy khoan bàn (6 cái); 02 Máy dập cơ cũ; 01 Máy hàn Inverter 350A; 01 Máy tiện 1.6m cũ). Ông Nguyễn Văn Qu đang quản lý các tài sản, do đó buộc ông Nguyễn Văn Qu trả cho ông Nguyễn Văn Tn các tài sản nêu trên. [9] Riêng đối với các máy móc, thiết bị khác, bao gồm (Kéo cắt đột bằng tay cũ; Máy cắt liên hợp cũ; Máy phát điện làm xăng cũ; Máy hàn điện 650A cũ; Máy hàn điện 500A cũ; Máy tiện 2.5m cũ; Máy tiện 1.8m cũ; Máy tiện 2.7m cũ; Máy phây 0.9m cũ; Bàn ép thủy lực tay (2 cái); Máy bơm 5HP), ngoài việc cung cấp giấy xác nhận có mua tài sản trên (Bản phô tô), ông Tn không còn chứng cứ nào khác, nên không có cơ sở chấp nhận các máy móc, thiết bị này thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Tn. [10] Ông Tn rút một phần yêu cầu, do đó đình chỉ giải quyết đối với: Nhà xưởng (N 19.6m x d42m, N 24m x d 11m); các thiết bị, máy móc gồm: Máy phát điện dầu cũ; Cổng trực 5 tấn cũ; Máy hàn điện cơ 8 cái cũ; Máy hàn điện Míc 350A cũ; Máy cắt Plasma 60A; Máy cắt sắt rừa điện; Máy cắt sắt rùa điện cũ. Tổng giá trị tài sản ông Tn được chấp nhận một phần yêu cầu là 159.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản ông Tn không được chấp nhận yêu cầu là 71.700.000 đồng. [11] Quá trình tố tụng, phát sinh chi phí tố tụng (định giá), ông Tn không yêu cầu ông Qu trả lại, nên không đề cập giải quyết. [12] Án phí: Ông Tn được chấp nhận một phần yêu cầu nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần được chấp nhận. Ông Tn không được chấp nhận một phần yêu cầu nên phải chịu án phí đối với phần này, tuy nhiên ông Tn trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí. Ông Nguyễn Văn Qu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.990.000 đồng. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; [1] Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Tn; Buộc ông Nguyễn Văn Qu trả cho ông Nguyễn Văn Tn các tài sản sau: + Thiết bị tự chế: 01 Máy cuốn 3 trục 1.55m; 01 Máy cuốn 3 trục 3.2m (chỉ có 3 trục); 02 Máy cuốn thép hình 3 trục; 01 Máy ép thủy lực.

+ Thiết bị đã qua sử dụng: 01 Máy cuốn 3 trục 2.2m cũ; 01 Máy cắt liên hợp VNSX; 01 Máy bao ngang cũ; 01 Máy phát điện dầu cũ (K15); Máy khoan bàn (6 cái); 02 Máy dập cơ cũ; 01 Máy hàn Inverter 350A; 01 Máy tiện 1.6m cũ.

[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Tn yêu cầu ông Nguyễn Văn Qu trả các tài sản sau: Kéo cắt đột bằng tay cũ; Máy cắt liên hợp cũ; Máy phát điện làm xăng cũ; Máy hàn điện 650A cũ; Máy hàn điện 500A cũ; Máy tiện 2.5m cũ; Máy tiện 1.8m cũ; Máy tiện 2.7m cũ; Máy phây 0.9m cũ; Bàn ép thủy lực tay (2 cái); Máy bơm 5HP.

[3] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Tn đối với: Nhà xưởng (N 19.6m x d42m, N 24m x d 11m); các thiết bị, máy móc gồm: Máy phát điện dầu cũ; Cổng trực 5 tấn cũ; Máy hàn điện cơ 8 cái cũ; Máy hàn điện Míc 350A cũ; Máy cắt Plasma 60A; Máy cắt sắt rừa điện; Máy cắt sắt rừa điện cũ.

[4] Về án phí:

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Tn;

Ông Nguyễn Văn Qu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.990.000 đồng.

[5] Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn Văn Tn, ông Nguyễn Văn Qu có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ