- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích Tr đối với ông Võ Đăng Kh bà Đinh Thị Thanh Th về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H. HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2021/DS-ST Ngày: 20-10-2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tán Nghị
Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Pha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2021/TLST-DS ngày 24/5/2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXX-ST ngày 01 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Bích Tr, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T1, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Võ Đăng Kh, sinh năm 1977 và bà Đinh Thị Thanh Th, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: Thôn T1, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2021, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Phạm Bích Tr trình bày:
Do quen biết nên bà đã nhiều lần cho vợ chồng ông Kh bà Th mượn tiền nhiều lần, những lần trước vợ chồng ông Kh bà Th đã trả đủ tiền. Lần gần đây nhất là vào ngày 22/5/2020 vợ chồng ông Kh bà Th có mượn của bà số tiền 500.000.000 đồng với mục đích buôn bán làm ăn, vì tin tưởng nên bà đã cho mượn. Khi mượn ông Kh và bà Th đã nhận đủ số tiền, viết Giấy mượn tiền và hẹn 02 tháng sau, tức là đến ngày 22/7/2020 sẽ trả lại số tiền trên cho bà. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ bà đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu ông Kh, bà Th phải trả nợ cho bà nhưng vợ chồng họ cố tình không trả, né tránh và hứa hẹn nhiều lần, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Đăng Kh và bà Đinh Thị Thanh Th có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Theo đơn khởi kiện thì bà có yêu cầu vợ chồng Võ Đăng Kh và bà Đinh Thị Thanh Th phải trả tiền lãi đối với số nợ gốc là 33.888.883 đồng nhưng quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà xác định xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tiền lãi nêu trên.
Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Đăng Kh và bà Đinh Thị Thanh Th trình bày:
Từ năm 2018 đến năm 2020, vợ chồng ông bà có vay mượn tiền của bà Tr nhiều lần với số tiền vay tổng cộng là 1.700.000.000 đồng, mỗi tháng ông bà chi trả lãi theo yêu cầu bà Tr là 10%/tháng từ khi vay mượn tiền nhưng 1 năm nay vợ chồng ông bà làm ăn thua lỗ nên không trả tiền lãi nữa. Khi trả lãi ông bà không có viết giấy tờ gì nên hiện không có chứng cứ gì để chứng minh. Tính đến ngày 22/5/2020 vợ chồng ông bà đã trả tiền gốc cho bà Tr 1.200.000.000 đồng (Các giấy mượn tiền cũ bà Tr đã trả lại cho vợ chồng ông bà), còn nợ lại 500.000.000 đồng tiền gốc nên ông bà đã viết Giấy mượn tiền và hẹn 02 tháng sau, tức là đến ngày 22/7/2020 sẽ trả đủ. Tuy nhiên do tình hình dịch bệnh nhiều đợt, kinh tế khó khăn và chưa bán nhà được nên ông bà chưa trả nợ cho bà Tr được.
Nay vợ chồng ông bà đồng ý trả số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng cho bà Tr nhưng xin được trả làm 02 đợt, cụ thể khi bán được nhà, vợ chồng ông bà sẽ trả cho bà Tr 50% trên số tiền nợ gốc, số tiền nợ gốc còn lại ông bà sẽ trả dần khi có điều kiện. Đối với số tiền lãi ông bà xin không trả nữa.
Tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đơn khởi kiện, bản sao CMND sổ hộ khẩu của nguyên đơn, 01 Giấy mượn (nợ) tiền đề ngày 22/5/2020, bản tự khai của nguyên đơn, bị đơn; biên bản xác minh và hồ sơ giải quyết tố cáo tại Công an huyện Hòa Vang.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 280, 357, 466, 468 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích Tr và xử: Buộc ông Võ Đăng Kh và bà Đinh Thị Thanh Th trả cho bà Phạm Bích Tr số tiền 500.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tiền lãi của bà Tr. Về án phí dân sự sơ thẩm ông Võ Đăng Kh và bà Đinh Thị Thanh Th phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn phải trả số tiền đã vay, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện Hòa Vang. Do vậy, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Bà Phạm Bích Tr và vợ chồng ông Võ Đăng Kh bà Đinh Thị Thanh Th đều xác định vợ chồng ông Kh và bà Th có vay mượn của bà Tr số tiền gốc là 500.000.000 đồng, có viết Giấy mượn tiền đề ngày 22/5/2020 và đến nay vẫn chưa trả. Sự thừa nhận của các đương sự trên là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định vợ chồng ông Kh và bà Th nợ bà Tr số tiền 500.000.000 đồng.
Việc vay mượn tiền và viết giấy mượn tiền của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thoả thuận không trái pháp luật nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo Giấy mượn tiền đề ngày 22/5/2020 thì ông Kh và bà Th xác nhận vay của bà Tr số tiền 500.000.000 đồng và hẹn đến ngày 22/7/2020 sẽ trả lại số tiền trên cho bà Tr nhưng đến nay vẫn không trả nợ. Xét thấy, ông Kh và bà Th đã nhiều lần cam kết trả tiền cho bà Tr nhưng đều không thực hiện và đến nay vẫn chưa trả nợ nên đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do đó, căn cứ Điều 280, 351 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Kh và bà Th phải có tránh nhiệm trả cho bà Tr số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng. Ông Kh và bà Th có ý kiến xin được trả dần số tiền trên nhưng không được bà Tr đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận đề nghị xin trả dần của ông Kh và bà Th.
Đối với yêu cầu tiền lãi, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Tr rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả số tiền lãi 33.888.883 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tr là tự nguyện nên căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tiền lãi đã rút.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Kh và bà Th phải chịu theo qui định của pháp luật là: 20.000.000 đồng + (100.000.000 đồng x 4%) = 24.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 274, 280, 351, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích Tr đối với ông Võ Đăng Kh bà Đinh Thị Thanh Th về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Tuyên xử:
1. Buộc ông Võ Đăng Kh bà Đinh Thị Thanh Th có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Bích Tr số tiền là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích Tr về yêu cầu trả lãi số tiền 33.888.883 đồng.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Đăng Kh bà Đinh Thị Thanh Th phải chịu 24.000.000 đồng (hai bốn triệu đồng). Hoàn trả cho bà Phạm Bích Tr 12.678.000 đồng (mười hai triệu sáu trăm bảy tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8257 ngày 21/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
4. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Hoà Vang; - Chi cục THADS huyện Hoà Vang; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Anh Tuấn |