vanban.org

Bản án 32/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh Đ về việc đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản đối với bà Huỳnh Thị D và ông Võ Văn K.

Buộc bà Huỳnh Thị D và ông Võ văn K phải trả cho ông Trần Minh Đ số tiền 744.349.000đồng. Trong đó tiền vốn 500.000.000đồng, tiền lãi 244.349.000đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HĐ dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh Đ về việc đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản đối với bà Huỳnh Thị D và ông Võ Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2021/DS-ST
Ngày 06-10-2021
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Thừa

Ông Nguyễn Hữu Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 88/2021/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2021 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 181/2021/QĐXX-DS ngày 06 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Minh Đ, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Số 49X4/7B tổA, khu vực B, phường AK, quận NK, thành phố Cần Thơ “có mặt”

2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị D sinh năm 1975 “có mặt”

Ông Võ Văn K, sinh năm 1973 “vắng mặt”

Nơi cư trú: ẤpTP, xã TT, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 02/6/2021, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Minh Đ trình bày: Vào ngày 12/9/2018 ông có cho bà Huỳnh Thị D và chồng là ông Võ Văn K vay số tiền 800.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận 2,5%/tháng. Quá trình vay vợ chồng bà D trả được 300.000.000đồng tiền vốn và trả tiền lãi từ tháng 9/2018 đến tháng 02/2019 với số tiền lãi đã trả là 62.500.000đồng, từ tháng 03/2019 đến nay chưa trả lãi. Nay ông Đ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà D trả cho ông số tiền vốn 500.000.000đồng. Tiền lãi yêu cầu vợ chồng bà D trả lãi theo mức lãi suất 20%/năm tính từ tháng 03/2019 đến tháng 10/2021.

Bị đơn bà Huỳnh Thị D trình bày: Bà D thừa nhận ngày 12/9/2018 vợ chồng bà có vay của ông Trần Minh Đ số tiền 800.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận là 2,5%/tháng, bà trả cho ông Đ được 300.000.000đồng tiền vốn và 62.500.000đồng tiền lãi. Từ tháng 03/2019 đến nay do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà chưa trả lãi. Nay vợ chồng bà đồng ý trả tiền vốn 500.000.000đồng và xin miễn tiền lãi.

Tại phiên tòa:

Ông Đ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà D trả cho ông số tiền vốn 500.000.000đồng. Tiền lãi yêu cầu vợ chồng bà D trả lãi theo mức lãi suất 20%/năm tính từ thời điểm vay ngày 12/9/2018 đến ngày 06/10/2021 là 1120 ngày, tương đương số tiền lãi là 306.849.000đồng, đồng ý khấu trừ tiền lãi đã trả trước là 62.500.000đồng, số tiền lãi còn lại là 244.349.000đồng. Như vậy, tổng cộng vốn và lãi vợ chồng bà D phải trả là 744.349.000đồng.

Bà D đồng ý trả số tiền vốn và lãi theo yêu cầu của ông Đ.

Ông K chồng bà D vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự. Buộc vợ chồng bà D phải thanh toán cho ông Đ số tiền 744.349.000đồng (bao gồm vốn và lãi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:

Về tố tụng: Ông Võ Văn K là bị đơn được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông K.

Về nội dung:

Về vốn vay: Bà D thừa nhận vợ chồng bà còn nợ ông Đ số tiền vốn vay là 500.000.000đồng.

Về tiền lãi: Các bên thống nhất mức lãi suất thỏa thuận thời điểm vay là 2,5%/tháng. Quá trình vay, vợ chồng bà D trả được tiền lãi từ 9/2018 đến tháng 02/2019 với số tiền là 62.500.000đồng, từ tháng 03/2019 đến tháng 10/2021 chưa trả lãi. Xét thấy, lãi suất các bên thỏa thuận tại thời điểm vay vượt mức 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa, ông Đ đồng ý điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo mức lãi suất 20%/năm, tính từ thời điểm vay đến thời điểm xét xử, sau đó khấu trừ vào số tiền lãi đã trả trước đó, số tiền lãi chênh lệch còn lại vợ chồng bà D phải trả là có căn cứ. Như vậy, tiền lãi được tính cụ thể như sau: 500.000.000đồng x 20% x 1120 ngày = 306.849.000đồng.

365 ngày (Thời điểm vay tháng 9/2018 đến tháng 10/2021 là 1120 ngày), khấu trừ số tiền lãi đã trả 62.500.000đồng, tiền lãi còn lại phải trả là 244.349.000đồng. Tổng cộng vốn và lãi vợ chồng bà D phải thanh toán cho ông Đ là 744.349.000đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị D, ông Võ Văn K phải nộp 5% trên tổng số tiền vợ chồng bà D phải trả cho nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy đinh tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, gia đình bà D có khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên xét giảm cho vợ chồng bà 50% án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh Đ về việc đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản đối với bà Huỳnh Thị D và ông Võ Văn K.

Buộc bà Huỳnh Thị D và ông Võ văn K phải trả cho ông Trần Minh Đ số tiền 744.349.000đồng. Trong đó tiền vốn 500.000.000đồng, tiền lãi 244.349.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị D, ông Võ Văn K phải nộp 16.886.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trần Minh Đ được nhận lại 12.000.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 013729 ngày 03/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, bị đơn bà D có mặt, ông K vắng mặt.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân địa phương nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ