vanban.org

Bản án 32/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/12/2019). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hà L - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
Ngày: 04/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lù Văn Quý.

2. Ông Lò Văn Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Ngần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2020/TLST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hà L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 8 năm 1986 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Tổ 5, phường Quyết T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Tất Nh, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966 (đã chết), bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Nhân thân: Ngày 09/11/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn La (nay là Tòa án nhân dân thành phố Sơn La), tỉnh Sơn La, xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ; Ngày 09/4/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn La (nay là Tòa án nhân dân thành phố Sơn La), tỉnh Sơn La, xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc Nguyễn Hà L chấp hành hình phạt 48 tháng tù.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 50 phút ngày 15/12/2019, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Đèo Văn Q đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng (Q tự giác lấy lấy túi áo khoác bên phải phía trước ra giao nộp và khai nhận là Hồng phiến cất giữ để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy trên do Q mua của Nguyễn Hà L, sinh năm 1986, trú tại: Tổ 5, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La với giá 100.000 đồng).

Trên cơ sở lời khai của Đèo Văn Q, cùng ngày 15/12/2019. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hà L tại số nhà 02, ngõ 5, đường 8/3 thuộc tổ 5, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ vật chứng gồm:

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải L đang mặc số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) L khai nhận đây là số tiền vừa bán ma túy cho Đèo Văn Q.

- Thu giữ 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) tại túi quần phía sau bên phải L đang mặc (L khai nhận đây là số tiền L làm thuê mà có).

- Thu giữ tại giường trong phòng ngủ 01 (một) hộp cat tông màu đỏ bên trong có 01 (một) túi nilon màu hồng chứa 85 viên nén hình tròn màu hồng; 01 (một) túi ni lon màu xanh bên trong có 86 viên nén hình tròn màu hồng (L khai nhận số ma túy trên L cất giấu để bán kiếm lời); 01 (một) ống điếu tự chế được làm bằng chai thủy tinh, bên trên có gắn vòi nhựa màu trắng bọc bằng băng dính màu xanh (L khai nhận là ống điếu do L tự chế để làm dụng cụ sử dụng ma túy).

Thu giữ tại vị trí trong máy lọc nước cạnh tủ lạnh trong phòng bếp: 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có tinh thể màu trắng (L khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá, L cất giấu để bán).

Cùng ngày 15 tháng 12 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Đèo Văn Q có khối lượng 0,09 gam, lấy 0,09 gam (ký hiệu ĐL1) làm mẫu gửi phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy; 85 (tám mươi lăm) viên nén hình tròn màu hồng trong túi nilon màu hồng thu giữ của Nguyễn Hà L có khối lượng 8,27 gam, lấy 10 viên khối lượng 0,95 gam (ký hiệu ĐL2) làm mẫu gửi giám định chất ma túy còn 75 viên có khối lượng 7,32 gam (ký hiệu ĐL3) làm mẫu lưu kho; 86 (tám mươi sáu) viên nén hình tròn màu hồng trong túi nilon màu xanh có khối lượng 8,26 gam, lấy 10 viên khối lượng 0,93 gam (ký hiệu ĐL4) làm mẫu gửi giám định chất ma túy, còn lại 76 viên có khối lượng 7,33 gam (ký hiệu ĐL5) làm mẫu lưu kho; số tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng có khối lượng 1,87 gam, lấy 0,34 gam (ký hiệu ĐL6) làm mẫu gửi giám định chất ma túy, còn lại 1,53 gam (ký hiệu ĐL7) làm mẫu lưu kho.

Kết luận giám định số 29/KLGĐ ngày 18/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu giám định ký hiệu ĐL1, ĐL2, ĐL4 đều là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là ĐL1 = 0,09 gam, ĐL 2 = 0,95 gam, ĐL4 = 0,93 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu ĐL6 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là ĐL6 = 0,34 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 16,62 gam loại Methamphetamine và 1,87 gam loại Ketamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hà L khai nhận như sau:

Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 15/12/2019, Nguyễn Hà L đi bộ từ nhà ở tổ 5, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La ra đường Quốc lộ đón xe ô tô khách đi vào khu vực huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để bán kiếm lời. Đến khu vực cửa khẩu xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La L xuống xe, tại đây L gặp mua của một nam giới không quen biết 01 (một) gói ma túy, bọc bằng nilon màu xanh bên trong có 86 (tám mươi sáu) viên hồng phiến và 01 (một) gói ma túy bọc nilon màu hồng bên trong có 88 (tám mươi tám) viên hồng phiến với giá 5.000.000 đồng. L cầm 02 (hai) gói ma túy vừa mua được cất giấu vào trong túi áo đang mặc rồi đón ô tô khách đi về nhà. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, L về tới nhà và lấy 02 (hai) viên hồng phiến từ trong gói nilon màu hồng ra sử dụng, số ma túy còn lại L cất vào 01 (một) hộp cat tông màu đỏ để trên giường rồi đi ngủ.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/12/2019, Đèo Văn Q đến nhà L để hỏi mua 01 (một) viên ma túy để sử dụng, L đồng ý bán với giá 100.000 đồng. Sau đó L đi vào phòng ngủ lấy 01 (một) viên hồng phiến trong túi nilon màu hồng rồi dùng mảnh giấy bạc gói viên hồng phiến lại và đi ra phòng khách đưa cho Q. Q cất ma túy vừa mua được vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc rồi đi xe ôm đến khu vực tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La tìm nơi sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng. Trên cơ sở lời khai của Đèo Văn Q cơ quan Cảnh sát điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hà L đã thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Đối với nguồn gốc 16,62 gam Methamphetamine: Bị cáo Nguyễn Hà L khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cửa khẩu Chiềng Khương, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Đối với nguồn gốc 1,87 gam Ketamine bị cáo khai mua đã lâu không nhớ mua của ai vào thời gian nào. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ mở rộng vụ án.

Đối với Đèo Văn Q đã có hành vi mua 0,09 gam Methamphetamie nhằm mục đích sử dụng. Tuy nhiên do khối lượng ma túy Q cất giữ trái phép dưới mức khởi tố tối thiểu theo quy định của Bộ luật hình sự. Mặt khác, Q chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này. Do vậy, hành vi của Đèo Văn Q không cấu thành tội phạm. Ngày 30/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra - thành phố Sơn La đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đèo Văn Q là đúng quy định của pháp luật.

Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSTP ngày 10/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Hà L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Hà L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ Q công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáoNguyễn Hà L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 7,32 gam ký hiệu ĐL3 và 7,33 gam ký hiệu ĐL5 ma túy loại Methamphetamine; 1,53 gam ký hiệu ĐL7 ma túy loại Ketamine; 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng; 01 (một) mảnh giấy bạc; 01 (một) vỏ túi nilon màu hồng; 01 (một) vỏ túi nilon màu xanh; 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng đã được niêm phong trong 01 chiếc phong bì Công văn của Công an thành phố Sơn La; 01 chiếc hộp cattong màu đỏ, kích thước 10cm x 18cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc ống điếu tự chế làm bằng chai thủy tinh trong suốt, bên trên gắn vòi nhựa màu trắng được bọc băng dính màu xanh, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hà L: Số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) đã được niêm phong trong 01 chiếc phong bì Công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hà L nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 15/12/2019, Đèo Văn Q đã có hành vi cất giấu trái phép 0,09 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Trên cơ sở lời khai của Đèo Văn Q cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Nguyễn Hà L tại số nhà 02, ngõ 5, đường 8/3 thuộc tổ 5, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ vật chứng: Số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) L khai nhận đây là số tiền vừa bán ma túy cho Đèo Văn Q; số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) tại túi quần phía sau bên phải L đang mặc (L khai nhận đây là số tiền L làm thuê mà có); tại giường trong phòng ngủ 01 (một) hộp cattong màu đỏ bên trong có 01 (một) túi nilon màu hồng chứa 85 (tám mươi lăm) viên nén hình tròn màu hồng; 01 (một) túi ni lon màu xanh bên trong có 86 (tám mươi sáu) viên nén hình tròn màu hồng (L khai nhận số ma túy trên L cất giấu để bán kiếm lời); 01 (một) ống điếu tự chế được làm bằng chai thủy tinh, bên trên có gắn vòi nhựa màu trắng bọc bằng băng dính màu xanh (L khai nhận là ống điếu do L tự chế để làm công cụ sử dụng ma túy).

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; lời khai nhận của Đèo Văn Q; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 15/12/2019 tại tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Đèo Văn Q cùng vật chứng thu giữ là 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong gói nilon màu trắng là gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc là 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng; Lệnh khám xét khẩn cấp; Biên bản khám xét; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu thu giữ ngày 15/12/2019 tại nơi ở của Nguyễn Hà L cùng vật chứng thu giữ 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng tại túi quần phía trước bên trái L đang mặc; 1.100.000 đồng tại túi quần phía sau bên phải L đang mặc; tại giường trong phòng ngủ 01 (một) hộp cattong màu đỏ bên trong có 01 (một) túi nilon màu hồng chứa 85 (tám mươi lăm) viên nén hình tròn màu hồng; 01 (một) túi ni lon màu xanh bên trong có 86 (tám mươi sáu) viên nén hình tròn màu hồng; 01 (một) ống điếu tự chế được làm bằng chai thủy tinh, bên trên có gắn vòi nhựa màu trắng bọc bằng băng dính màu xanh; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 29 ngày 18/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La;

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Phạm Văn Lai, sinh năm 1979, trú tại: tổ 6, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Đèo Văn Q và ông Hoàng Văn Hòa, sinh năm 1957, trú tại: tổ 5, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La người chứng kiến việc khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hà L.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hà L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Hà L đã có hành vi bán trái phép 0,09 gam Methamphetamine cho Đèo Văn Q và cất giữ trái phép hai chất ma túy 16,62 gam Methamphetamine; 1,87 gam Ketamine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời căn cứ hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, xác định tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ trong vụ án: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu đối với Methamphetamine được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 là 55,4%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với chất ma túy ở thể rắn quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 là 1,87%.Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu đối với quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là 55,4% + 1,87% = 57,27% (thuộc trường hợp dưới 100%). Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Hà L đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Đèo Văn Q đã có hành vi mua 0,09 gam Methamphetamie nhằm mục đích sử dụng. Tuy nhiên do khối lượng ma túy Q cất giữ trái phép dưới mức khởi tố tối thiểu theo quy định của Bộ luật hình sự. Mặt khác, Q chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này. Do vậy hành vi của Đèo Văn Q không cấu thành tội phạm. Ngày 30/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra - thành phố Sơn La đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đèo Văn Q là đúng quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Nguyễn Hà L khai mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 15/12/2019 tại khu vực Cửa khẩu Chiềng Khương, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo Nguyễn Hà L phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.

Vật chứng vụ án:

Đối với 7,32 gam ký hiệu ĐL3 và 7,33 gam ký hiệu ĐL5 còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine; 1,53 gam ký hiệu ĐL7còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy loại Ketamine, thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng; 01 (một) mảnh giấy bạc; 01 (một) vỏ túi nilon màu hồng; 01 (một) vỏ túi nilon màu xanh; 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng; 01 chiếc hộp cattong màu đỏ, kích thước 10cm x 18cm đã qua sử; 01 (một) chiếc ống điếu tự chế làm bằng chai thủy tinh trong suốt, bên trên gắn vòi nhựa màu trắng được bọc băng dính màu xanh, đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng, vật bị cáo dùng để cất giấu, sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Hà L đây là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung quy nhà nước. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Hà L quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên qua đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hà L theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/12/2019).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 7,32 gam ký hiệu ĐL3 và 7,33 gam ký hiệu ĐL5 ma túy loại Methamphetamine; 1,53 gam ký hiệu ĐL7 ma túy loại Ketamine; 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu trắng; 01 (một) mảnh giấy bạc; 01 (một) vỏ túi nilon màu hồng; 01 (một) vỏ túi nilon màu xanh; 01 (một) vỏ túi nilon màu trắng đã được niêm phong trong 01 chiếc phong bì Công văn của Công an thành phố Sơn La; 01 chiếc hộp cattong màu đỏ, kích thước 10cm x 18cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc ống điếu tự chế làm bằng chai thủy tinh trong suốt, bên trên gắn vòi nhựa màu trắng được bọc băng dính màu xanh, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hà L: Số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) đã được niêm phong trong 01 chiếc phong bì Công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Nguyễn Hà L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Hà L được Q kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/5/2020)./.

Cỡ chữ