vanban.org

Bản án 32/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn L 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16 tháng 03 năm 2020. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Vi Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật TT hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32 /2020/ HSST
Ngày 23 / 06 /2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Đào.

Ông Lê Minh Tường

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 23 tháng 06 năm 2020 tại trụ sở UBND xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2020/TLST – HS ngày 17 tháng 04 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2020/QĐST–HS ngày 11 tháng 06 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vi Văn L, tªn gäi kh¸c: Không.

Sinh năm 1990, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản N, xã L, huyện Q, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn H, con bà: Trương Thị D; Vợ: Lữ Thị H (đã ly hôn), con: Có 01 người, sinh năm: 2016; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 28/02/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quú Hợp, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày ngµy 16/3/2020 đến nay.

( Có mặt).

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1980 Nơi cư trú: Khối M, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, tại xóm K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Công an huyện Q phối hợp với Công an xã C phát hiện và thu giữ Vi Văn L đang cất dấu 01 gói chÊt bột nén mµu tr¾ng được gói bằng tờ giấy màu trắng kẻ ngang (nghi là Hêrôin), để trong túi áo khoác bên phải đang mặc của Vi Văn L.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập ngày 17/3/2020 của Công an huyện Quỳ Hợp xác định: Gói chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn L có khối lượng là 3,020 gam, đã lấy 0,1 gam đưa đi giám định.

KÕt luËn gi¸m ®Þnh sè: 410/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 20/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn L gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin). Số chất bột nén màu trắng (01) gói thu giữ của Vi Văn L có khối lượng là 3,020 gam.

Tại phiên tòa Vi Văn L khai nhận: Gói chÊt bột nén mµu tr¾ng thu giữ khi bị bắt quả tang là Hêrôin. Sau khi đã điện thoại hẹn trước, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, tại khu vực cổng chào khối B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vi Văn L đã mua gói ma túy trên của chị Nguyễn Thị C, trú tại khối M, thị trấn Q, với số tiền 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng. Trên đường về Vi Văn L đã vào sân bóng chuyền thuộc khối N, thị trấn Q lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại Vi Văn L bỏ vào túi áo đang mặc. Khi về đến xóm K, xã C thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Bản cáo trạng số 32/VKS – HS ngày 16/04/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Vi Văn L về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Vi Văn L nhất trí với cáo trạng truy tố của VKSND huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Vật chứng vụ án: Vật chứng còn lại của vụ án là 2,920 gam Hêrôin, vỏ bao niêm phong cùng với giấy gói đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

Chiếc điện thoại nhãn hiệu Nôkia là tài sản của bị cáo nên đề nghị trả lại cho chủ sở hữu.

Xe mô tô biển kiểm soát 37H1-161.74, thuộc sở hữu của anh Vi Văn L, Công an huyện Quỳ Hợp đã trả lại xe mô tô cho anh Trương Văn B (là người được ủy quyền) nên đề nghị miễn xét.

Bị cáo Vi Văn L nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn L khai nhận, là người nghiện chất ma túy, nên sau khi đã điện thoại hẹn trước, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, tại khu vực cổng chào khối B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vi Văn L đã mua gói ma túy trên của chị Nguyễn Thị C với số tiền 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng. Trên đường về Vi Văn L đã vào sân bóng chuyền thuộc khối N, thị trấn Q lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại Vi Văn L bỏ vào túi áo đang mặc. Khi về đến xóm K, xã C thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và bị thu giữ 01 gói Hêrôin trong túi áo khoác bên phải đang mặc của Vi Văn L. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/03/2020; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập ngày 17/3/2020 của Công an huyện Quỳ Hợp; KÕt luËn gi¸m ®Þnh sè: 410/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 20/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn L gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin). Số chất bột nén màu trắng 01 gói thu giữ của Vi Văn L có khối lượng là 3,020 gam. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Vi Văn L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo Vi Văn L đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý. Vụ án xảy ra còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Đặc biệt bị cáo là người có một tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo vì tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ....”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Theo lời khai của bị cáo Vi Văn L thì chị Nguyễn Thị C là người đã bán ma túy cho Vi Văn L. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh song không có kết quả nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị Nguyễn Thị C.

Vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của Vi Văn L có khối lượng 3,020 gam nhưng đã đưa đi giám định 0,1 gam, chỉ còn lại 2,920 gam heroine bỏ trong phong bì thư (niêm phong) bưu điện phát hành là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo cần trả lại cho chủ sở hữu.

Về án phí: Bị cáo Vi Văn L chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vi Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn L 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16 tháng 03 năm 2020.

Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 2,920 gam heroine thu giữ của Vi Văn L.

Trả lại cho bị cáo Vi Văn L 01 chiếc điện thoại di động Nokia, đã qua sử dụng.

Đặc điểm chi tiết vật chứng (Điện thoại, heroine) được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/ 04/2020 giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật TT hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Bị cáo Vi Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người làm chứng. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/ 06 /2020.

Cỡ chữ