- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen The B thuc hien hanh vi trom cap tai san nguoi khac - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm t i “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HS-ST Ngày: 19-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hải;
Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: ông Ngô Quốc Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 19/5/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65A/2020/HSST- QĐ ngày 29-4-2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thế B, sinh năm 1986, tại Đồng Tháp; H khẩu thư ng tr : Số A, đư ng B, t C, khóm D, phư ng E, T phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Ch ở hiện nay: t G, ấp H, xã J, huyện CL, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình đ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân viên; Cha: Nguyễn H u P và mẹ Nguyễn Thị Kim P; Có 2 chị em, bị cáo là con nh nhất; V : Nguyễn Lê Th y A, sinh năm 1990; Chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm gi ngày 30/11/2019; Tạm giam 09/12/2019. Ngày 19/12/2019, đư c thay thế biện pháp ngăn ch n t tạm giam T B l nh.
Bị cáo có m t tại phiên tòa.
- Bị hại: Trần Thị Bảo C, sinh năm 1975 (có m t).
Địa chỉ: số K, đư ng L, t Z, khóm X, phư ng V, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
- Ngư i làm chứng:
1. Nguyễn Thanh S, sinh năm 1988 (có m t).
Địa chỉ: số Q, đư ng W, khóm E, phư ng A, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (có m t).
Địa chỉ: số F, đư ng H, khóm MT, phư ng MP, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Nguyễn Thế B, anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Bảo C cùng là nhân viên của Đơn vị phà Đồng Tháp thu c Sở Giao thông V n tải tỉnh Đồng Tháp. B là nhân viên k thu t và anh T là nhân viên lái xe, công tác tại phà Đồng Tháp, còn chị C là Bến trưởng Bến phà Đ. Ngày 22/11/2019, trong lúc cùng làm việc với anh T, B biết đư c chị C đưa 05 chìa khóa và 01 khóa nhà, nh anh T đi sửa lại do chìa khóa không mở đư c khóa nên sau khi anh T đi sửa chìa khóa về, để trên baga xe mô tô của anh T tại nhà xe thì B lén l t lấy 05 chìa khóa đi đến phư ng P, thành phố CL thuê làm thêm 02 chìa khóa mới rồi mang 05 chìa khóa về để lại vị trí cũ cho anh T. Anh T không hay biết việc làm của B.
Ngày 27/11/2019, B chạy xe ngang nhà chị C quan sát, biết đư c chị C không sử dụng khóa đã nh anh T sửa trước đó để khóa cửa nhà, không có điều kiện thực hiện đư c hành vi tr m cắp tài sản nên B đi về.
Khoảng 08 gi 30 ph t ngày 29/11/2019, B tiếp tục chạy xe đến nhà chị C quan sát. L c này B phát hiện nhà chị C sử dụng khóa đã nh anh T sửa để khóa cửa ngoài nên B quay về nhà m c áo khoác đen dài tay, quần dài màu đen, đeo khẩu trang màu hồng, đ i mũ bảo hiểm màu đ , mang theo 01 ba lô vải màu đen rồi sử dụng điện thoại di đ ng, số thuê bao 0932919737 gọi cho bạn là Nguyễn Thanh S sinh năm 1988, ngụ số L, đư ng SL, khóm O, phư ng Y, thành phố CL nói dối là xe đang chạy bị hư nên nh đ i xe mô tô Wave alpha màu bạc – trắng – đen, biển số 66P1-352.80 của S để đi giao đồ nh m mục đích tránh mọi ngư i nh n ra, S tin tưởng nên đồng ý. Đến 10 gi 15 ph t, B chạy xe đến ngã tư Tân Việt Hòa, phư ng U, thành phố CL g p S để đ i xe rồi chạy xe mô tô biển số 66P1-352.80 đến nhà chị C số K, đư ng L, t Z, khóm X, phư ng V, thành phố CL, dùng chìa khóa đã làm trước đó để mở cửa vào nhà tìm tài sản lấy tr m. B đi lên lầu 1 tìm tài sản nhưng không thấy nên tiếp tục đi lên lầu 2, vào phòng ngủ của chị C lấy tr m 02 s i dây chuyền b ng kim loại màu trắng; 02 m t dây chuyền b ng kim loại màu trắng có đính nhiều h t đá màu trắng; 02 m t dây chuyền b ng kim loại màu vàng có đính hình ph t màu xanh và màu trắng; 01 chiếc vòng đeo tay b ng các h t màu nâu kết dính với nhau có con t hưu b ng kim loại màu vàng; 08 chiếc vòng đeo tay b ng kim loại màu trắng, có gắn đá màu trắng; 07 nhẫn đeo tay b ng kim loại màu trắng có gắn đá màu trắng; 01 nhẫn đeo tay b ng kim loại màu vàng có gắn đá màu xanh để trong h p g màu nâu đ t trên bàn g bên phải giư ng ngủ; tiền m t t ng c ng 2.069.000đồng, gồm: 02 t mệnh giá 50.000đồng, 38 t mệnh giá 20.000đồng, 103 t mệnh giá 10.000đồng, 13 t mệnh giá 5.000đồng, 39 t mệnh giá 2.000đồng và 36 t mệnh giá 1.000đồng để trong con cá làm b ng thủy tinh đ t trên đầu tủ tivi; 01 máy tính xách tay màu đen, hiệu Sony Vaio cùng 01 võ bao, 01 điện thoại di đ ng hiệu Iphone màu trắng bạc model A1778, 01 điện thoại di d ng hiệu Iphone màu xanh đen model A1429, 03 cục sạc và dây cáp điện thoại di đ ng màu trắng để bên trong học tủ tivi; 01 con heo làm b ng đất nung màu vàng để trên bàn g , đ t bên trái giư ng ngủ. Sau đó, B lấy toàn b tài sản để trong ba lô vải màu đen và cầm con heo đất trên tay đi xuống lầu 1 vào phòng ngủ đ p con heo đất chiếm đoạt tài sản bên trong gồm tiền m t t ng c ng 62.400.000đồng, gồm: 114 t mệnh giá 500.000đồng, 20 t mệnh giá 200.000đồng, 14 t mệnh giá 100.000đồng và 01 miếng kim loại màu vàng hình ch nh t có ghi ch SJC rồng vàng 999.9, trọng lư ng 7,6g (02 chỉ). T ng số tiền m t B lấy tr m tại nhà chị C là 64.469.000đồng. B lấy toàn b tài sản bên trong con heo đất để vào ba lô vải màu đen, b lại nhiều mãnh v trong phòng ngủ ở lầu 1, đi ra ngoài và khóa cửa lại như ban đầu rồi chạy xe đến cống Lý Thư ng Kiệt thu c t B, khóm H, phư ng D, thành phố CL ném áo khoác màu đen xuống Kênh 16, sau đó lấy tài sản trong ba lô ra để vào t i ny lon màu đen và tiếp tục điều khiển xe mô tô đến khu vực chân cầu CL ném ba lô vải màu đen, 02 chìa khóa xuống sông Tiền rồi đến g p S đ i lại xe và mang toàn b tài sản tr m đư c về nhà B tại t C, khóm D, phư ng E, T phố CL cất giấu bên trong học giư ng ngủ ở lầu 1.
Đến khoảng 23 gi 30 ph t cùng ngày, Bảo nh n thức đư c hành vi tr m cắp tài sản của chị C là vi phạm pháp lu t nên tự nguyện đến Công an phư ng M, thành phố CL đầu th , th a nh n hành vi tr m cắp tài sản của mình và giao n p toàn b tài sản đã lấy tr m.
Đối với chị C, khoảng 16 gi 55 ph t, sau khi đi làm về phát hiện tài sản bị mất tr m nên đã trình báo Công an phư ng 2.
Căn cứ Kết lu n định giá tài sản số 200/KL-ĐGTS ngày 06/12/2019 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết lu n: Tài sản định giá gồm trang sức làm b ng vàng, máy tính xách tay cùng v bao máy tính, điện thoại di đ ng, cục sạc và dây cáp điện thoại di d ng có t ng giá trị là 145.261.000đồng. Như v y, t ng giá trị tài sản của chị C bị B chiếm đoạt là 145.261.000đồng 64.469.000đồng (tiền m t) 209.730.000đồng.
Ngày 05/12/2019, Cơ quan điều tra m i chị Trần Thị Bảo C làm việc, chị C xác định tài sản Cơ quan điều tra thu hồi ngày 30/11/2019 của B đ ng là tài sản chị C bị mất tr m. Chị C xác định số lư ng tài sản thu hồi là đủ số lư ng tài sản bị mất, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị C xong, chị C không thắc mắc, khiếu nại hay yêu cầu bồi thư ng gì thêm. Đồng th i, ngày 10/3/2020, B bồi thư ng giá trị con heo đất mà B đã đ p bể là 50.000đồng cho chị C. Chị C đã nh n tiền bồi thư ng và không yêu cầu B bồi thư ng gì thêm.
Cơ quan điều tra tạm gi nhiều mảnh v của con heo đất đư c làm b ng đất nung, màu vàng tại nhà của chị C và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu bạc trắng đen, biển số 66P1-352.80 cùng giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô, xe máy, số 012219 (bản chính) do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 07/3/2015 cho Nguyễn Thanh S do S tự nguyện giao n p. Qua điều tra, xác minh xác định l c cho mư n xe S hoàn toàn không biết đư c mục đích B dùng làm phương tiện đi tr m nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy t xe cho S.
Đối với áo khoác dài tay màu đen, 02 chìa khóa và 01 ba lô màu đen B khai đã ném xuống Kênh 16 và sông Tiền, Cơ quan điều tra đã t chức truy tìm nhưng không tìm thấy.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nh n hành vi của mình như đã nêu trên, phù h p với l i khai của ngư i bị hại, l i khai ngư i làm chứng Nguyễn Thanh S, Nguyễn Văn T, biên bản phạm t i đầu th , biên bản khám nghiệm hiện trư ng, v t chứng thu gi , kết lu n định giá và các tài liệu, chứng cứ khác thu th p đư c trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSND-TPCL ngày 03 tháng 4 năm 2020, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế B, về t i “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 B lu t Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh gi nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị như sau:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm t i “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của B lu t hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B với mức án t 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý v t chứng: Bị hại đã nh n lại tài sản xong không yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên không đ t vấn đề giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo th a nh n hành vi phạm t i của mình và xin xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, nh n định như sau:
Tính h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện phù h p pháp lu t.
Nh ng chứng cứ xác định có t i, cấu thành t i phạm và điều lu t áp dụng:
Đây là vụ án “Tr m cắp tài sản” do Nguyễn Thế B thực hiện. Khoảng 10 gi 30 ph t ngày 29/11/2019, Nguyễn Thế B sử dụng 02 chìa khóa đã lén lút làm thêm t trước để mở cửa vào nhà của chị Trần Thị Bảo C tại số K, đư ng L, t Z, khóm X, phư ng V, thành phố CL lấy tr m số tiền m t 64.469.000đồng và nhiều trang sức của chị C với t ng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 209.730.000đồng.
L i khai nh n của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù h p với chứng cứ thu th p có trong hồ sơ vụ án.
Trong phần tranh lu n tại phiên tòa, l i lu n t i của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho r ng bị cáo phạm t i “Tr m cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ. Bị cáo th a nh n l i lu n t i của Kiểm sát viên là đ ng ngư i, đ ng t i, đ ng với tính chất, mức đ và hành vi của bị cáo gây ra.
Bị cáo đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự và biết r hành vi của mình là vi phạm pháp lu t nhưng vẫn thực hiện chứng t việc phạm t i của bị cáo là cố ý và t i phạm đã hoàn thành.
Bị cáo tr m cắp tài sản với số tiền t ng c ng là 209.730.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm với tình tiết định khung qui định tại điểm a khoản 3 Điều 173 B lu t hình sự.
T nh ng cơ sở trên kết lu n bị cáo đã phạm vào t i “Tr m cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 B lu t Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. ...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. ...
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến đến tài sản của ngư i khác m t cách trái pháp lu t, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình tr t tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng cho bị cáo m t mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm t i của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra kh i đ i sống xã h i m t th i gian nhất định để bị cáo có th i gian học t p, cải tạo, trở thành ngư i tốt có ích cho gia đình và xã h i sau này. Đồng th i, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thư ng khắc phục h u quả xong; Gia đình bị cáo có ông n i của bị cáo là ngư i có công với cách mạng và đư c t ng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Tại cơ quan điều tra đư c bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết đư c quy định theo điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B lu t Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm t i đã đầu th , bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 B lu t hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 B lu t hình sự xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng n ng: không có.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại cơ quan điều tra bị cáo đã th a thu n bồi thư ng thiệt hại xong. Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại không yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên không đ t vấn đề giải quyết.
Về đề nghị của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát đề nghị về hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù h p nên chấp nh n.
Các vấn đề khác:
- Đối với bị cáo trong quá trình xét xử có làm đơn yêu cầu định giá lại tài sản nhưng tại phiên tòa bị cáo r t lại yêu cầu định giá nên H i đồng xét xử không xem xét.
- Đối với anh Nguyễn Thanh S không biết B mư n xe để đến nhà chị C
lấy tr m tài sản nên Cơ quan điều tra không đề c p xử lý.
- Đối với anh Nguyễn Văn T là ngư i quản lý chìa khóa nhà của chị C
trước khi B lấy tr m. Khi B lấy tr m chìa khóa nhà của chị C làm thêm chìa khóa để lấy tr m, anh T hoàn toàn không biết nên không xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 B lu t hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm t i “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn tù của bị cáo đư c tính t ngày bắt bị cáo đi chấp hành án tr đi th i gian tạm gi , tạm giam t ngày 30-11-2019 đến ngày 19-12-2019.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nh n lại tài sản xong không yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên không đ t vấn đề giải quyết.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí của Ủy ban thư ng vụ Quốc H i:
Bị cáo Nguyễn Thế B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Ngư i tham gia tố tụng; - VKSND TPCL; - VKDND tỉnh Đồng Tháp; - CQĐT Công an TPCL; - CQTHAHS Công an TPCL; - Trại tạm giam CA tỉnh ĐT; - B ph n hồ sơ nghiệp vụ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phạm Minh Tùng |