vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 05 (năm) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Phạt bổ sung bị cáo số tiền 05 (năm) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
Ngày 28-02-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Bình

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Tuấn S, sinh ngày 18 tháng 01 năm 1982 tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 6/376 H, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; tạm trú: K20 đường C, T, xã A, huyện D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 04/10/2019, tạm giam ngày 07/10/2019; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 03/10/2019, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trước cửa nhà số 221 T, phường S, quận L, Hải Phòng thì phát hiện Trần Tuấn S đang ngồi trên xe máy Sirius màu trắng biển kiểm soát 15B1-150.20 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữ trên tay phải của S 01 bao thuốc lá Vinataba màu vàng, bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng gói 02 túi nilon màu trắng mép viền đỏ đều chứa chất bột màu trắng dạng cục; thu giữ tại cạp quần bên hông trái của S 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng gói 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ, bên trong đựng 03 túi nilon nhỏ mép viền đỏ đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe máy, 01 điện thoại Samsung màu đen và số tiền 2.500.000 đồng. Sau đó, tổ công tác đã đưa S cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 518/KLGĐ ngày 07/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 02 túi nilon thu giữ trên tay phải của S có khối lượng 7,4610gam, là loại Heroine; chất bột màu trắng trong 03 túi nilon thu giữ tại cạp quần bên hông trái của S là ma túy, có khối lượng 11,2160gam, là loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Tuấn S khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 03/10/2019, S đang đi xe máy trên đường Tô Hiệu thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0972.711.950 của người nam giới hỏi mua 02 chỉ Heroine. S báo giá 3.800.000đồng/01 chỉ, người nam giới này đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực trước cửa nhà số 221 T, L, Hải Phòng. Sau đó, S điều khiển xe đến khu vực ngã ba X, H, Hải Phòng gặp và mua của người nữ giới tên T 05 chỉ Heroine được gói trong 05 túi nilon với giá 3.300.000đồng/01chỉ. Mua xong, S lấy 02 túi Heroine gói vào mảnh giấy màu trắng rồi cho vào vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng cất vào túi quần để bán; còn 03 túi Heroine thì vẫn để trong túi nilon bọc mảnh giấy vệ sinh màu trắng, giắt vào cạp quần bên trái. Khi đi đến trước cửa số nhà 221 Tôn Đức Thắng, S lấy vỏ bao thuốc lá có Heroine cầm ở tay phải, còn tay trái cầm điện thoại để gọi cho nam giới hỏi mua ma túy thì bị thì lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Ngoài ra, còn khai đã bán ma túy cho người nam giới này 01 chỉ Heroine vào ngày 02/10/2019, được lãi 500.000 đồng và đã mua ma túy của T 02 lần trước khi bị bắt. T không cho số điện thoại để liên lạc mà chỉ hẹn khi nào cần mua ma túy thì đến khu vực ngã ba Xi măng đợi T.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trần Tuấn S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Tuấn S mức án từ 09 đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 05 (năm) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định;

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu đen thu giữ của bị cáo.

Trả lại cho bị cáo số tiền 2.500.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 03/10/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 221 T, phường S, quận Lê Chân, Hải Phòng, Trần Tuấn S đã có hành vi cất giữ trái phép 18,6770g (mười tám phẩy sáu bảy bảy gam) Heroine với mục đích để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Tuấn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

Việc bị cáo Trần Tuấn S mua bán trái phép 18,6770g (mười tám phẩy sáu bảy bảy gam) Heroine nên phải chịu tình tiết định khung là “Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức; việc sử dụng chất này chỉ trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cất giữ trái phép để bán lại cho người khác kiếm lời, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và quyết tâm phạm tội cao. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền; hành vi của bị cáo có tính vụ lợi nên Hội đồng xét xử cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng:

Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo sau khi lấy đi giám định lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc điện thoại di động Samsung màu đen đã cũ, bị cáo đã sử dụng vào việc giao dịch mua bán ma túy; xét là công cụ phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 2.500.000đồng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về các vấn đề khác:

Việc S khai trước khi bị bắt đã 02 lần mua ma túy của T và đã 01 lần bán ma túy vào ngày 02/10/2019. Ngoài lời khai của S, cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ kết luận.

Đối với người nam giới hỏi mua ma túy của S, do S không biết họ tên, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã thu giữ thư tín, điện tín của số thuê bao 0972.711.950, được cung cấp: Chủ thuê bao là Nguyễn Kim Q, sinh ngày 28/12/1979, địa chỉ: G, Đ, Cần Thơ. Kết quả điều tra xác minh, không có nhân khẩu tên Nguyễn Kim Q trên địa bàn xã G nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra.

Đối với người nữ giới tên T đã bán ma túy cho S ngày 03/10/2019, do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với 01 xe máy biển kiểm soát 15B1-150.20, quá trình điều tra xác định là tài sản bị mất trộm vào tháng 3/2019 tại xã L, huyện D, Hải Phòng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiến hành trao đổi với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D giao nhận chiếc xe trên để tiếp tục điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn S 09 (chín) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 04 tháng 10 năm 2019.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 05 (năm) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định;

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu đen, imei: 358059082093919 thu giữ của bị cáo.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ