vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Trịnh Huy H.

Bị cáo Trịnh Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Trịnh Huy H 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trịnh Huy H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Trịnh Huy H.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST
.
Ngày 22 - 5 -2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Nam

2. Ông Nguyễn Văn Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Sỹ Vĩ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2020/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Trịnh Huy H - Sinh năm 1979, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Huy Đ và bà Lê Thị P; có vợ: Hoàng Thị V và có 1 con sinh năm 2016.

Tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 22/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/01/2019, nộp xong án phí ngày 21/3/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2020 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 02 năm 2020, Tổ công tác Công an huyện Triệu Sơn kiểm tra hành chính Trịnh Huy H khi H điều khiển xe máy biển số 54S1-5391 mượn của ông Trịnh Huy Đ đến đoạn đường thuộc thôn 1, thị trấn T thì phát hiện trong túi khoác bên phải của H đang mặc trên người 01 gói nhỏ bọc bằng giấy ô li, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn, H khai là ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, khám xét nơi ở của H nhưng không thu giữ được gì.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa H khai bản thân nghiện ma túy từ năm 2010 đến nay. Sáng ngày 01/02/2020, H đi xe máy đến Trung tâm y tế huyện Đông Sơn để uống methadone. Tại đây H gặp một người nam giới đã từng gặp trước đó nhưng không biết tên và địa chỉ, H nói: “có ma túy không cho xin một ít”. Người này đưa cho H 01 gói ma túy, H bỏ vào túi áo khoác mục đích mang về nhà sử dụng. Khi đi đến đoạn đường thôn 1, thị trấn T thì bị Công an huyện Triệu Sơn bắt quả tang, bắt giữ người cùng tang vật.

Tại kết luận giám định số 607/PC09 ngày 04/02/2020, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,025g loại Heroine.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: Chuyển toàn bộ vật chứng còn lại sau giám định 0,013g Heroine đựng phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn T, Lưu Bình N và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn chờ xử lý.

Quá trình điều tra xác định xe máy biển số 54S1-5391 của ông Trịnh Huy Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội của H nên Công an huyện Triệu Sơn trả xe cho ông Đ.

Bản cáo trạng số 30/CT-VKSTS ngày 10 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố bị cáo Trịnh Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, 38BLHS xử phạt Trịnh Huy H từ 12 đến 15 tháng tù; Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Huy H khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trịnh Huy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 02 năm 2020, Công an huyện Triệu Sơn bắt quả tang Trịnh Huy H tàng trữ trái phép 0,025g loại Heroine. Do Trịnh Huy H đang có tiền án về hành vi này nên phạm vào điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Bản Cáo trạng và lời Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố hành vi của bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.

Xét tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo còn trẻ tuổi, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà tàng trữ, sử dụng ma túy không những ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, kinh tế, hạnh phúc gia đình, nhân cách con người, là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo và còn là một tệ nạn xã hội cần phải ngăn chặn. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51BLHS. Do đó, được xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, không thể cải tạo tại địa phương, cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành do đó tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định theo c khoản 1Điều 47BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106BLTTHS.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Trịnh Huy H.

Tuyên bố:

Bị cáo Trịnh Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trịnh Huy H 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm

giữ, tạm giam ngày 01/02/2020 .

Áp dụng: Điểm c khoản 1Điều 47BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có các chữ ký của Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Văn T, Lưu Bình N và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn 30/VC/2020 ngày 10/4/2020.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ