vanban.org

Bản án 32/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 17/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 20 tháng 4 năm 2020. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo nguyễn Quốc Đ tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-ST.
Ngày 17/8/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Chúc.

Ông Huỳnh Văn Đương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Út - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/TLST-HS, ngày 14 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 7 năm 2020 đối với:

Bị cáo Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1994, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963, vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1996, có 01 người con sinh năm 2019. Anh, chị, em ruột gồm có 05 người (kể cả bị cáo) lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất là bị cáo.

Tiền án: 01 lần, ngày 10/7/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt 04 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 18/6/2018, đến ngày phạm tội mới ngày 19/4/2020, bị cáo chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không; nhân thân: Có tiền án; bị cáo bị bắt tạm giữ kể từ ngày 20/4/2020 đến ngày 23/4/2020 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ: Luật sư Đặng Văn C, Văn phòng Luật sư Đặng Văn C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Trà Vinh. Địa chỉ: Số 02, đường Nguyễn Tấn L, ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Kiều Thanh H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khóm M, phường H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

- Anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa:

- 01 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 117/M của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn M và cán bộ Ngô Đình T, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh.

- 01 (một) đoạn keo màu xanh, dài 21,5cm, rộng 3,5cm.

- 01 ống thủy tinh có đoạn cong, dài 19cm, đường kính nhỏ nhất 0,5 cm, đường kính lớn nhất 02cm.

- 01 áo khoác vải màu đen, có viền đỏ trắng trên tay áo, khích thước dài 70cm, rộng 47cm, hai túi và dây kéo phía trước, 01 lổ rách phía sau tay áo bên phải khích thước 4,5cm x 02cm.

- 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OPPO màu đỏ đen, không kiểm tra bên trong.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 19/4/2020, có người thanh niên tên T ngụ thành phố Trà Vinh (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) điện thoại cho bị can Nguyễn Quốc Đ rủ lên thành phố Trà Vinh chơi, Đ đồng ý. Sau đó, Đ liên hệ với Kiều Thanh H, ngụ khóm M, phường H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh rủ H đi cùng với Đ.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đến nhà Đ và chở Đ đi lên thành phố Trà Vinh, khi chạy đến chợ xã H thì Đ vào tiệm cầm đồ Nguyễn Duy cầm chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO của Đ được 1.800.000 đồng, rồi cả hai người cùng đi đến thành phố Trà Vinh chạy về hướng Khu công nghiệp Long Đức, thành phố Trà Vinh. Khi đi đến ngã ba đường thuộc xã Long Đức thì Đ dừng xe lại, xuống xe đi gặp người thanh niên tên T như đã hẹn trước đó, còn H thì điều khiển xe đi uống cà phê. Sau đó, T dẫn Đ vào nhà trọ của T, khi vào nhà trọ thì Đ thấy có 01 người thanh niên bạn của T cũng ở đó rồi cả 03 người ngồi nói chuyện chơi và cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy.

Đến khoảng 21 giờ, bị can Đ mượn điện thoại của T gọi điện kêu H đến chở Đ về nhà, khi Đ chuẩn bị ra về thì T cho Đ 01 tép ma túy đá và một bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, tép ma túy T nhét vào 01 lổ rách trên tay áo khoác bên phải của bị can Đ, còn bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy Đ để vào túi áo khoác bên phải. Sau đó Đ đi ra ngoài ngã ba đường thì thấy H đã đợi sẵn ở đó. Đ và H điều khiển xe mô tô đi về nhà của Đ tại ấp B, xã H, khi về đến nhà Đ đi vào nhà một lúc rồi quay trở ra, sau đó Đ và H điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Thành K, ngụ ấp K, xã H, huyện C khi đi gần đến nhà anh K thì gặp tổ tuần tra Công an xã H nên Đ xuống xe chạy vào nhà sau của anh K, Đ cởi áo khoác ra để trên đầu giường, lúc này tổ tuần tra cũng đi vào trong nhà anh K và đến đầu giường lấy cái áo khoác của Đ kiểm tra thì phát hiện trong túi áo khoác có dụng cụ sử dụng ma túy nên mời Đ về Công an xã làm việc.

Qua làm việc thì tiếp tục kiểm tra phát hiện bên trong tay áo khoác bên phải của Đ có một túi ny lon trong suốt, có viền xanh, kích thước 05 x 3,5 cm, bên trong túi ny lon có chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ và thu giữ tang vật niêm phong theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 117/KLGĐ ngày 22/4/2020 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong túi ny lon gửi giám định là ma túy tổng hợp, có khối lượng 1,2952 gam, loại Methamphetamine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang ra Quyết định tạm giữ hình sự 03 ngày đối với Nguyễn Quốc Đ, kể từ ngày 20/4/2020 đến ngày 23/4/2020. Ngày 22/4/2020 ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Quốc Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và chuyển tạm giam từ ngày 23/4/2020 cho đến nay.

Trong quá trình điều tra, trích lục tiền án, tiền sự của bị can Nguyễn Quốc Đ, kết quả vào ngày 10/7/2015, bị can bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt 04 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị can chấp hành xong án phạt vào ngày 18/6/2018, đến ngày phạm tội (ngày 19/4/2020) bị can chưa được xóa án tích.

Đối với người thanh niên tên Thanh, bị can quen biết nhau là do bị can và T trước đây từng chấp hành án tại Trại giam Bến Giá nhưng không biết họ tên và địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Cầu Ngang có đến xác minh thông tin của người thanh niên tên T tại Trại giam Bến Giá nhưng không có người này nên không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với Kiều Thanh H đi cùng bị can Đ, ngay từ đầu H không biết bị can Đ cất giấu ma túy trong người nên không đề cặp xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS-HS, ngày 13/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định truy tố bị can Nguyễn Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc Đ khai nhận:

- Vào khoảng 17 giờ ngày 19/4/2020, bị cáo đến thành phố Trà Vinh để gặp người thanh niên tên T, sau khi gặp T dẫn bị cáo vào nhà trọ để sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày bị cáo ra về thì T cho bị cáo 01 tép ma túy đá và một bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, T nhét 01 tép ma túy đá vào 01 lổ rách trên tay áo khoác bên phải của bị cáo, còn bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy bị cáo để vào túi áo khoác bên phải.

- H điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi về nhà ngụ ấp B, xã H, sau đó bị cáo và H điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Thành K, ngụ ấp K, xã H, huyện C thì gặp tổ tuần tra Công an xã H nên bị cáo xuống xe chạy vào nhà sau của anh K rồi cởi áo khoác ra để trên đầu giường, lúc này tổ tuần tra cũng đi vào trong nhà anh K và đến đầu giường lấy cái áo khoác của bị cáo kiểm tra thì phát hiện trong túi áo khoác có dụng cụ sử dụng ma túy nên mời Đ về Công an xã làm việc và tiếp tục kiểm tra phát hiện bên trong tay áo khoác có một túi ny lon trong suốt, có viền xanh, kích thước 05 x 3,5 cm, bên trong túi ny lon có chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên bị Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ cùng tang vật niêm phong theo quy định.

Bị cáo thống nhất bản kết luận giám định số 117/KLGĐ ngày 22/4/2020 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong túi ny lon gửi giám định là ma túy tổng hợp, có khối lượng 1,2952 gam, loại Methamphetamine.

- Các tờ tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, thống nhất quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hà Văn Út đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Luật sư Đặng Văn C bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ trình bày lời bào chữa: Khẳng định bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS-HS, ngày 13/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng. Luật sư không bào chữa về tội danh và khung hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bởi vì nguồn gốc 01 tép ma túy đá mà bị cáo có được là do tặng cho, bị cáo chưa nhận thức được việc tàng trữ là vi phạm pháp luật, bị cáo chưa kịp suy nghĩ tép ma túy này sử dụng vào việc gì, bị cáo phạm tội nhất thời, chưa sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện bắt giữ, mặt dù bị cáo có tiền án, nhưng bị cáo rất ăn năn hối cãi, thật thà khai báo, người thân bị cáo có công cách mạng, bị cáo có con nhỏ. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã Tàng trữ trái phép ma túy có khối lượng 1,2952 gam trong chiếc áo khoác là loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng, bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay những người làm chứng gồm anh Kiều Thanh H, anh Nguyễn Thành K vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Quốc Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 17 giờ ngày 19/4/2020, bị cáo cùng anh Kiều Thanh H điều khiển xe mô tô chạy đến thành phố Trà Vinh để gặp người thanh niên tên T, sau khi gặp T dẫn bị cáo vào nhà trọ rồi cùng nhau sử dụng ma túy, còn H thì đi uống cà phê. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo ra về thì T cho bị cáo 01 tép ma túy đá và bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, T nhét 01 tép ma túy đá vào 01 lổ rách trên tay áo khoác bên phải của bị cáo, còn bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo để vào túi áo khoác bên phải. H điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi về nhà ngụ Ấp B, xã H, huyện C sau đó bị cáo và H điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Thành K, ngụ ấp K, xã H, huyện C, trên đường đi gần đến nhà anh K thì gặp tổ tuần tra Công an xã H nên bị cáo xuống xe chạy vào nhà sau của anh K rồi cởi áo khoác ra để trên đầu giường, lúc này tổ tuần tra cũng đi vào trong nhà anh K, đi đến đầu giường lấy cái áo khoác của bị cáo để kiểm tra thì phát hiện trong túi áo khoác có dụng cụ sử dụng ma túy nên mời Đ về Công an xã làm việc và tiếp tục kiểm tra phát hiện bên trong tay áo khoác có một túi ny lon trong suốt, có viền xanh, kích thước 05 x 3,5 cm, bên trong túi ny lon có chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên bị Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật niêm phong.

Căn cứ bản kết luận giám định số 117/KLGĐ ngày 22/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong túi ny lon gửi giám định là ma túy tổng hợp, có khối lượng 1,2952 gam, loại Methamphetamine.

Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về ma túy, ma túy là chất độc hại, chất gây nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do đó mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo nhận thức và biết rõ những tác hại trực tiếp do ma túy gây ra đối với bản thân, gia đình và xã hội, nhưng khi Thanh cho bị cáo 01 tép ma túy đá và bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, bị cáo không từ chối mà nhận ngay rồi đem về mục đích Tàng trữ ma túy để sử dụng, đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với thủ đoạn hết sức tinh vi, nhằm trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay. Bị cáo có 01 tiền án đến nay chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không biết hối cải, khắc phục hành vi sai trái của mình mà lại tiếp tục phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người thân của bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt.

. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 117/M của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn M và cán bộ Ngô Đình T, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh. Đây là chất ma túy, cấm lưu hành.

- Các vật chứng gồm: 01 đoạn keo màu xanh, dài 21,5cm, rộng 3,5cm; 01 ống thủy tinh có đoạn cong, dài 19cm, đường kính nhỏ nhất 0,5cm, đường kính lớn nhất 02 cm. Là bộ dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy.

Xét thấy các vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 áo khoác vải màu đen, có viền đỏ trắng trên tay áo, khích thước dài 70cm, rộng 47cm, hai túi và dây kéo phía trước, 01 lổ rách phía sau tay áo bên phải khích thước 4,5cm x 02cm và 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OPPO màu đỏ đen, không kiểm tra bên trong. Là tài sản của bị cáo bị thu giữ để phục vụ điều tra vụ án, bị cáo không có sử dụng chiếc điện thoại này để giao dịch mua ma túy tàng trữ. Hội đồng xét xử quyết định tuyên trả cho bị cáo.

. Về án phí hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Đ nộp 200.000 đồng.

Xét lời bào chữa của vị Luật sư Đặng Văn C trình bày lời bào chữa cho bị cáo nêu trên là có căn cứ vào được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 20 tháng 4 năm 2020.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 117/M của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn M và cán bộ Ngô Đình T, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh.

- 01 đoạn keo màu xanh, dài 21,5cm, rộng 3,5cm.

- 01 ống thủy tinh có đoạn cong, dài 19cm, đường kính nhỏ nhất 0,5cm, đường kính lớn nhất 02cm.

Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ nhận:

- 01 áo khoác vải màu đen, có viền đỏ trắng trên tay áo, khích thước dài 70cm, rộng 47cm, hai túi và dây kéo phía trước, 01 (một) lổ rách phía sau tay áo bên phải khích thước 4,5cm x 02cm.

- 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OPPO màu đỏ đen, không kiểm tra bên trong.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Đ nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ