- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Lợi - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HS-PT Ngày 29-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Bình
Ông Lê Anh Sơn
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy Hà – Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2020 đối vớ i bi ̣ cáo Lê Văn L do có kháng cáo của bi ̣ cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2020/HS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn L, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1990 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đào, sinh năm 1956 và con bà Đào Thị Nắn, sinh năm 1953; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2019 đến ngày 15/10/2019 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn L nghiện chất ma túy. Tối ngày 08/10/2019, Lê Văn L mua của một người đàn ông không quen biết tại đường tàu Cầu Quay Hải Phòng ma túy đá với số tiền 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, về nhà Lê Văn L đã sử dụng một phần, số ma túy đá còn lại Lê Văn L để ở mặt đệm phòng ngủ của Lê Văn L tại Thôn A, xã B, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Khoảng 10 giờ ngày 09/10/2019, Lê Văn L đi xe khách từ xã B, huyện Thủy Nguyên sang khu vực đường tàu Cầu Quay Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Lê Văn L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi ma túy đá được đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lê Văn L cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi xe khách về nhà. Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 09/10/2019 khi Lê Văn L về đến khu vực Thôn A, xã B, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Lê Văn L có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 02 túi nilon đều chứa tinh thể màu trắng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn L thu giữ tại mặt đệm phòng ngủ của Lê Văn L 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 529/KLGĐ ngày 11/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu tại bàn tay trái của Lê Văn L là ma túy, có khối lượng 0,2843 gam, là loại Methamphetamine, tinh thể màu trắng; khám xét thu tại nơi ở của Lê Văn L là ma túy, có khối lượng 0,1491 gam, là loại Methamphetamine.
Tại Bản án sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Văn L 05 (năm) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ ngày 09/10/2019.
Ngoài ra, còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn L kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.
Đại diê ̣n Viê ̣n Kiểm sá t nhân dân thà nh phố Hải Phò ng phát biểu quan điểm giải quyết vụ á n : Bị cáo có hành vi 02 lần tàng trữ trái phép , lần một là 0,1491 gam, lần hai là 0,2843 gam, tổng hai lần khối lượng là 0,4334 gam là loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do mỗi lần bị cáo tàng trữ đều đủ lượng cấu thành tội phạm nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 là đúng người, đúng tô ̣i , đúng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t . Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiê ̣m; tuy nhiên bi ̣ cáo là người nghiện ma túy, được coi là nhân thân xấu ; sau khi pha ̣m tô ̣i bi ̣ cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải đây là tinh ti ết giảm nhẹ
̀ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự. Tòa án
̀ cấp sơ thẩm đa đã ́nh giá tinh chất, mứ c đô ̣, nhân thân xử bi ̣ cáo Lê Văn L 05 năm
́ tù là thỏa đáng, không nă ̣ng. Tại giai đoạn phú c thẩm, bị cáo không đưa ra được các tài liệu chứng cứ mới nên không chấp nhâ ̣n yêu cầu kháng cáo của bi ̣ cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự đề nghị Hội đồng xét x ử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do nghiện ma túy nên tối ngày 08/10/2019, Lê Văn L đến đường tàu nội thành Hải Phòng mua ma túy đá của một người đàn ông không quen biết với số tiền 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, về nhà Lê Văn L đã sử dụng một phần, số ma túy đá còn lại Lê Văn L để ở mặt đệm phòng ngủ của Lê Văn L tại Thôn A, xã B, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Khoảng 10 giờ ngày 09/10/2019, Lê Văn L tiếp tục sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Lê Văn L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi ma túy đá được đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lê Văn L cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi xe khách về nhà. Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 09/10/2019 khi Lê Văn L về đến khu vực Thôn A, xã B, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Lợi 02 túi ma túy đá. Theo Kết luận giám định: Mẫu vật thu trong phòng ngủ của Lợi là Methamphetamine có khối lượng 0,1491 gam; mẫu vật thu trên tay của Lợi là Methamphetamine có khối lượng 0,2843 gam, tổng khối lượng là 0,4334 gam.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng cho bản thân vào hai thời điểm khác nhau. Ngày 08/10/2019 tàng trữ Methamphetamine có khối lượng 0,1491 gam, ngày 09/10/2019 tàng trữ Methamphetamine có khối lượng 0,2843 gam, mỗi lần bị cáo tàng trữ đều đủ lượng cấu thành tội phạm quy định ở khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Theo hướng dẫn tại điểm 2.3 Mục 2, Phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự 1999 thì hành vi của Lê Văn L đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát cấp sơ thẩm cộng khối lượng ma túy của hai lần tàng trữ để kết luận, đề nghị xử bị cáo theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là không đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị xét xử bị cáo Lợi theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo khác điều khoản mà Viện Kiểm sát truy tố, kết luận nhưng chưa phân tích rõ căn cứ, lý do không chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát trong Bản án là chưa đầy đủ, cần rút kinh nghiệm.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trị an tại địa phương; là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác trong xã hội và ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn L đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt: Hô ̣i đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét tính chấ t, mứ c đô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i , nhân thân của bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 05 năm tù là thỏa đáng . Vì vậy, không có căn cứ giảm hình phạt theo kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Văn L 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 09/10/2019.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lê Văn L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thanh Bình Lê Anh Sơn
Lương Ngọc Dũng
| Nơi nhận: - VKSND TPHP; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - PV06 Công an TPHP; - Cơ quan CSĐT huyện Thủy Nguyên; - Cơ quan THAHS huyện Thủy Nguyên; - TAND huyện Thủy Nguyên; - Sở Tư pháp TP; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Dũng |