vanban.org

Bản án 32/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 392/2019/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương.

Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 392/2019/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2020/HS-PT
Ngày: 09-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang;

Th m phán thành viên: Ông Bùi Ngọc Thạch;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 12/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 392/2019/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh N, sinh năm 1996, tại tỉnh Quảng Ngãi; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T huyện S tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Số 02/21B, khu phố L, phường H thị xã D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vang T và bà Huỳnh Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong v án còn có đại diện hợp pháp của bị hại bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thanh N có giấy phép lái xe ô tô hạng C giá trị đến ngày 11/10/2023. Nhân lái xe cho công ty TNHH vận tải cẩu P. Vào lúc 07 giờ 50 phút ngày 18/3/2019, Nguyễn Thanh N điều khiển xe ôtô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 lưu thông trên tuyến đường ĐT743C từ hướng ngã ba T đi bưu điện H. Khi đi đến đoạn đường gần trước cổng bến xe H, Nguyễn Thanh N cho xe dừng sát lề đường bên phải để mua bánh mì. Sau khi mua xong Nguyễn Thanh N bật xi nhan trái điều khiển xe chuyển hướng sang trái vào ngã ba để về hướng bưu điện H thì phần đầu xe ô tô do Nguyễn Thanh N điều khiển va chạm với xe đạp do bà Lê Thị Lđi cùng chiều với xe Nhân. Bà Lan cùng xe đạp ngã xuống đường bà Lan bị bánh xe ô tô cán qua người. Hậu quả bà Lan tử vong tại bệnh viện Quân Đoàn 4 ngày 18/3/2019 xe đạp hư hỏng.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 193/PC09-GĐPY ngày 29/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận đối với bị hại Lê Thị Lan: Bên ngoài nhiều vết sây sát chà sát da bầm t máu gãy xương đùi phải; gãy nhiều xương sườn gãy xương ức; dập rải rác hai phổi dập gan thận; dập t máu ruột mạc treo. Nguyên nhân chết do đa chấn thương.

Tại sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường v tai nạn giao thông lúc 08 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3 năm 2019 tại đường ĐT743A khu phố Chiêu Liêu phường H thị xã D tỉnh Bình Dương thể hiện:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là ngã ba tỉnh lộ ĐT743C. Theo hướng ngã ba T đi hướng An Phú mặt đường rộng 12m. Theo hướng ngã ba T đi bưu điện H mặt đường rộng 11m.

Sau tai nạn: Xe ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 đầu xe quay về hướng bưu điện H. Tr c trước bên trái cách lề 6 1 m tr c sau bên trái cách lề 4 8 m. Tr c trước bên phải cách đảo phân tuyến 4 5 m và cách tr đèn đường số 256 là 10 4 m. Tr c sau bên trái cách tr đèn đường số 68 là 10 m.

Xe đạp ngã bên trái nằm dưới gầm xe ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 đầu xe quay vào lề trái tr c trước bánh xe cách lề 6 7m tr c sau bánh xe cách lề 7 7 m. Xe đạp để lại vết chà lốp trước dài 12 7 m đầu vết chà quay về hướng ngã ba T và cách mép lề 4 8 m vết cày đứt quãng của gác chân sau bên trái dài 15 9 m đầu vết cày quay về hướng ngã ba T và cách lề 6 2 m. Tr c trước bên trái xe ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 cách tr c trước xe đạp 0 7 m. Vết máu nạn nhân có tâm cách tr c sau bên phải xe ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 là 6 9 m và cách mép lề 6 7 m.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến v tai nạn giao thông ngày 20/3/2019 thể hiện:

Ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C-363.41: Cản trước mặt ngoài bên phải phần kim loại có vết trượt xước đen kích thước (11 x 2) cm theo chiều hướng từ trên xuống dưới đầu vết cà mặt đất 85 cm cuối vết cà mặt đất 74 cm. Nhíp xe bên phải dưới gầm mặt dưới phần kim loại có vết trượt xước đen chiều hướng từ trước ra sau. Thanh ngang kim loại nối hai tr c trước dưới gầm mặt trước có vết trượt xước đen và sạch b i.

Xe đạp: Tay cầm bên trái phần mủ bị mài mòn; giỏ đựng đồ phía trước mặt trước phần nhựa bị mài mòn; tay thắng trước bên phải phần nhựa bị gãy bung ra ngoài; tay cầm bên phải phần nhựa có dính chất dẻo lỏng màu vàng; bánh xe trước bị cong vênh theo chiều hướng từ phải sang trái; lốp trước bên trái mặt ngoài phần nhựa có vết xước nhám đen; gác chân sau bên trái mặt ngoài phần kim loại bị mài mòn.

Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông do Nguyễn Thanh Nđiều khiển xe ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 lưu thông đến giao lộ ngã ba chuyển hướng rẽ trái không nhường đường cho xe đạp đi phía trước không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng dẫn đến tai nạn làm bà Lan tử vong.

Vật chứng đã xử lý: Trả xe ô tô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 cho công ty TNHH vận tải cẩu P. Trả xe đạp của bà Lê Thị L cho ông Vũ Mạnh C là người đại diện.

Về trách nhiệm dân sự. Bị cáo Nguyễn Thanh N và bị đơn dân sự liên đới bồi thường cho đại diện bị hại Vũ Mạnh C số tiền 200.000.000 đồng đại diện bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thanh N.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 392/2019/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 điểm b s khoản 1 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người tham gia tố t ng khác.

Ngày 25/11/2019, bị cáo Nguyễn Thanh N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N đúng theo thời hạn luật định. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm nhận định. Bị cáo điều khiển xe ôtô tải thùng gắn cẩu biển số 61C – 363.41 chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát nên đã xảy ra tai nạn với xe đạp do bà Lê Thị L đi cùng chiều liền kề phía trước; làm bà Lê Thị L cùng xe đạp ngã xuống đường bà Lê Thị L bị bánh xe ô tô do bị cáo điều khiển cán qua người dẫn đến tử vong. Do đó hành vi mà bị cáo thực hiện đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ và đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và xử phạt bị cáo mức án 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp đúng người đúng tội. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 07 giờ 50 phút, ngày 18 tháng 3 năm 2019, bị cáo Nguyễn Thanh N điều khiển xe ôtô tải thùng gắn cẩu biển số 61C - 363.41 lưu thông trên tuyến đường ĐT743C từ hướng ngã ba T đi bưu điện H khi đi đến đoạn đường gần trước cổng bến xe H, Nguyễn Thanh N bật xi nhan trái điều khiển xe chuyển hướng sang trái vào ngã ba để về hướng bưu điện H. Do Nguyễn Thanh N không chú ý quan sát khi xe chuyển hướng nên phần đầu xe ô tô bị cáo điều khiển va chạm vào xe đạp do bị hại Lê Thị L đi cùng chiều liền kề phía trước làm bà Lê Thị L xe đạp ngã xuống đường bà Lê Thị L bị bánh xe ô tô cán qua người. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ “… chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác” hậu quả là bà Lê Thị L tử vong. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ phạm tội và xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tuy nhiên với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng là phù hợp không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh N phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 392/2019/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương.

Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thanh N phải nộp 200.000 đồng.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ