- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Ngô Thế V.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 7 năm 2020 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Miện
2. Ông Trương Đức Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thanh Thuần- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Ong Văn Chúc- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2020/TLST-HNGĐ ngày 02/3/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1992. ĐKHKTT:Thôn Châu Lỗ, xã M, huyện H, Bắc Giang. Chỗ ở: Thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Ngô Thế V, sinh năm 1991. ĐKHKTT: Thôn C, xã M, huyện H, Bắc Giang.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2019, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Thế V kết hôn ngày 25/3/2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Mỗi khi vợ chồng có mâu thuẫn thì anh V lại đánh đập chị. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được với nhau, chị yêu cầu ly hôn anh V.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Minh H, sinh ngày 21/7/2014. Con ở với ông bà nội (bố mẹ anh V) từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay. Chị muốn đón con theo nhưng gia đình anh V không đồng ý. Trong thời gian vợ chồng ly thân, chị vẫn đến thăm con, vẫn có trách nhiệm với con. Vợ chồng ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang kinh doanh thuốc tây và làm thêm, tổng thu nhập ổn định khoảng 11.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/tháng.
Anh V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung thì chị không đồng ý vì anh V không có việc làm và không có thu nhập ổn định, cuộc sống phụ thuộc vào bố mẹ đẻ, anh V còn sử dụng ma túy nên ảnh hưởng đến việc chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn là anh Ngô Thế V vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ, anh V trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị P kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống thỉnh thoảng có xảy ra xô xát do bất đồng quan điểm. Vợ chồng ly thân từ cuối năm 2019 đến nay. Vợ chồng ly thân thì chị P chuyển về nhà mẹ đẻ ở. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị P yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Minh H, sinh ngày 21/7/2014. Con chung ở với anh từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng ly thân thì anh có đưa cháu lên chơi với chị P. Chị P vẫn có trách nhiệm với con chung. Vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Chị P đang bán thuốc tây ở nhà mẹ đẻ. Hiện nay anh làm nghề tự do, thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng, anh không có giấy tờ gì chứng minh thu nhập.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Do điều kiện công việc, anh không thể đến Tòa án làm việc được, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Ngô Thế V.
2. Về con chung: Giao con chung là Ngô Minh H, sinh ngày 21/7/2014 cho chị Nguyễn Thị P nuôi dưỡng.
3. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Bị đơn là anh Ngô Thế V đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với anh V.
- Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị P và anh Ngô Thế V kết hôn ngày 25/3/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Hôn nhân tự nguyện, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn, là hôn nhân hợp pháp (Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình). Chị P yêu cầu được ly hôn anh V. Anh V không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị P vì xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tuy nhiên, theo lời trình bày của chị P và anh V thì xác định được trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng có xảy ra xô xát. Vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2019 đến nay. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị P yêu cầu ly hôn anh Ngô Thế V là có căn cứ và cần được chấp nhận (Theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình).
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Minh H, sinh ngày 21/7/2014. Cả chị P và anh V đều yêu cầu được nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn. Xét về thu nhập, theo lời trình bày của chị P và anh V thì xác định chị P công việc và có thu nhập ổn định (Chị P kinh doanh thuốc tây), còn anh V không chứng minh được thu nhập của mình. Hơn nữa, con chung tuổi vẫn còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ để đảm bảo cho cháu có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường. Chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ và cần được chấp nhận, cần giao con chung là Ngô Minh H cho chị Nguyễn Thị P nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị P không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị P và anh V xác định không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Ngô Thế V.
2. Về con chung: Giao con chung là Ngô Minh H, sinh ngày 21/7/2014 cho chị Nguyễn Thị P nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí DSST. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0003706 ngày 02/3/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H; - CCTHADS huyện H; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Các đương sự; - UBND xã M, huyện H; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Chuyền |