vanban.org

Bản án 32/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 07/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xö ph¹t bÞ c¸o Nguyễn Thế N 18 (Mười tám) th¸ng tï. Thêi h¹n chấp hành hình phạt tï, tÝnh tõ ngµy bị bắt tạm giữ 10/02/2019. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế N- TT tp chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 32/2019/HSST
Ngày 07 tháng 5 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Quốc Trị

Ông Đinh Duy Quyết

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Hải - Kiểm sát viên

Ngày 07/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/HSST ngày 28/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 04 năm 2019, đối với bị cáo:

* Nguyễn Thế N (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1993; tại xã T, huyện V, tỉnh N; trú tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T vµ bµ Nguyễn Thị N; vợ con: Chưa có;

Tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số 116/2016/HSST ngày 31/8/2016, của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong hình phạt ngày 25/04/2017.

Tiền sự: Quyết định số 128/QĐ-XPVPHC ngày 15/4/2015, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Quyết định số 18/QĐ-XPHC ngày 08/6/2015, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Quyết định số 185/QĐ-XP ngày 02/6/2017, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Quyết định số 02/QĐ-XP ngày 20/9/2017, Công an xã T, huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Nhân thân: Quyết định số 34/QĐ-XPHC ngày 08/7/2015, Công an phường T, thành phố N, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/02/2019, chuyển tạm giam ngày 12/02/2019 tíi nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Ngƣời làm chứng:

Anh Đinh Đức K. Vắng mặt tại phiên tòa.

Anh Vũ Nhật L. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thế N có quen biết với Đinh Đức K trú tại thôn Đ, xã G, huyện V. Ngày 09/02/2019, N và K hẹn nhau đến ngày 10/02/2019 thì N sẽ đến đón K để cùng nhau đi vào tỉnh Cần Thơ tìm việc làm. Khoảng 10 giờ ngày 10/02/2019, N đi xe tắc xi (không nhớ biển kiểm soát và hãng xe) đến nhà đón K rồi đi đến nhà nghỉ Phương Thảo thuộc xóm Đ, xã G, huyện V thuê phòng 205 nghỉ để hôm sau bắt xe đi Cần Thơ. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy nên N đi bộ từ nhà nghỉ Phương Thảo ra khu vực ngã ba K, xã G, huyện V rồi thuê một người lái xe ôm (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) chở đến khu vực chân cầu Non Nước, thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Đ gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá đựng bằng túi ni lông mầu trắng kích thước (1,5 x 02)cm với giá 300.000 đồng. Sau đó, N xin của người đàn ông này 01 chiếc cóng rồi cầm túi ma túy đá và chiếc cóng cất giấu trong túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc, đi đến nơi người lái xe ôm đứng chờ rồi đi xe ôm về phòng 205 nhà nghỉ Phương Thảo. Sau khi về phòng, N lấy một phần trong túi ma túy đá ra cho vào cóng để sử dụng, số ma túy còn lại N cất giấu vào trong túi áo khoác ngoài bên phải N đang mặc. Thấy N sử dụng ma túy, K nói “Cho em làm khói”, N đồng ý và cùng K sử dụng ma túy đá. Sau khi sử dụng xong ma túy, N cất giấu chiếc cóng vào trong túi áo khoác ngoài bên phải N đang mặc. Khoảng 20 giờ cùng ngày, N cùng K đến nhà Vũ Nhật L, sinh năm 1973 ở thôn 6, xã G, huyện V chơi. Khi L, N, K đang ngồi uống nước tại phòng khách nhà Vũ Nhật L thì bị Tổ công tác của Công an huyện V phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ kiểm tra. Nguyễn Thế N đã tự nguyện lấy trong túi áo khoác ngoài bên phải ra một túi nilon màu trắng kích thước (1,5x02)cm bên trong đựng chất dạng tinh thể màu trắng và 01 chiếc cóng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá N mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong túi nilon có đặc điểm như trên vào một phong bì thư và đưa Nguyễn Thế N, Đinh Đức K, Vũ Nhật L cùng vật chứng về trụ sở Đồn Công an Khu công nghiệp K lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và khối lượng ma túy đối với các hạt tinh thể mầu trắng trong 01 túi nhỏ thu giữ của Ngọc, ký hiệu M, để làm căn cứ xử lý theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 102/KLGĐ-PC09-MT ngày 12/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1409 (không phẩy một nghìn bốn trăm linh chín) gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

- Hoàn lại đối tượng giám định gồm:

+ Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0743 (không phẩy không nghìn bẩy trăm bốn mươi ba) gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

+ Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

(Tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 102/KLGĐ-PC09-MT theo đúng quy định pháp luật).

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-GV ngày 28/03/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Nguyễn Thế N ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế N từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2019

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 102/KLGĐ-PC09-MT, bên trong đựng: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0743 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 cóng thủy tinh mầu trắng; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon mầu trắng kích thước (1,5x2)cm và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thế N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 10/02/2019, tại nhà anh Vũ Nhật L ở thôn 6, xã G, huyện V, tỉnh N, bị cáo Nguyễn Thế N đã có hành vi cất giấu trái phép 0,1409 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ……..;

b, ……..;

c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam;

…….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thế N đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 116/2016/HSST ngày 31/8/2016, của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chưa được xóa án tích. Đây là trường hợp tái phạm nên bị cáo Nguyễn Thế N phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khai nhận hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thế N có 04 tiền sự;

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly bÞ c¸o ra khái ®êi sèng x· héi mét thêi gian, t ¬ng xøng víi hµnh vi mµ bÞ c¸o ®· g©y ra, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o vµ n©ng cao c«ng t¸c phßng ngõa chung, thÓ hiÖn tÝnh nghiªm minh cña ph¸p luËt.

. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: XÐt b¶n th©n bÞ c¸o Nguyễn Thế N lµ ng êi sö dông ma tóy, tàng trữ trái phép chất ma tóy nhằm mục đích sử dụng, không mang tính vụ lợi, kh«ng cã tµi s¶n g× cã gi¸ trÞ, nªn kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ xung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của Nguyễn Thế N là 0,1409 gam Methamphetamine. Sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng Methamphetamine còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0743 gam và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, đã được niêm phong trong phong bì ghi số 102/KLGĐ-PC09-MT; 01 cóng thủy tinh mầu trắng; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon mầu trắng kích thước (1,5x2)cm và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Đinh Đức K là người đã cùng Nguyễn Thế N sử dụng ma túy đá ngày 10/02/2019 tại phòng 205 nhà nghỉ Phương Thảo ở xóm Đ, xã G, huyện V. Quá trình điều tra xác định, Đinh Đức K không bàn bạc, trao đổi, không biết việc N đi mua, cất giấu ma túy để sử dụng, nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với K. Vì vậy, Công an huyện V đã ra quyết định xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Đinh Đức K, là phù hợp.

. Về nguồn gốc số Methamphetamine, bị cáo Nguyễn Thế N khai mua của người đàn ông tại khu vực chân cầu Non Nước, thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Đ vào ngày 10/02/2019. Tuy nhiên, N không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

VÒ ¸n phÝ: Bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Bị cáo, cã quyÒn kh¸ng c¸o theo luËt ®Þnh.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xö ph¹t bÞ c¸o Nguyễn Thế N 18 (Mười tám) th¸ng tï. Thêi h¹n chấp hành hình phạt tï, tÝnh tõ ngµy bị bắt tạm giữ 10/02/2019.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 102/KLGĐ-PC09-MT, bên trong đựng: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0743 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 cóng thủy tinh mầu trắng; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon mầu trắng kích thước (1,5x2)cm và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. (Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/3/2019, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thế N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ