vanban.org

Bản án 32/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 18/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Văn C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 09/12/2018). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần VĂn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TĨNH GIA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HS-ST
Ngày: 18 -04-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Biên

2. Bà Lường Thị Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 04 năm 2019, tại Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST – HS ngày 08 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn C - Sinh ngày 25/4/1990; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ngõ B, đường C, Phường: Đ, Thành phố H; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt N; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Minh H - sinh năm 1965 và con bà: Nguyễn Thị D- sinh năm 1968; Có vợ: Hà Thanh T- sinh năm 1992; Có 02 con: lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 26/03/2014 bị Công An phường Tân Sơn, Thành Phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”

- Ngày 02/08/2016 bị Công An phường Tân Sơn, Thành Phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”

- Ngày 05/01/2017 bị Công An phường Tân Sơn, Thành Phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000đ về hành vi “Đánh bạc”

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi liên quan: Thiều Văn Đ – Sinh năm: 1964 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện S, Thành Phố H.

*Người làm chứng:

- Chị Lê Thị D - Sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Ng, huyện T, tỉnh H

- Anh Thiều Văn H – Sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ : Thôn N, xã Đ, huyện S, Tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h20’ ngày 09/12/2018, tổ công tác Công an huyện Tĩnh Gia đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn Đào Duy Từ, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện Trần Văn C điều khiển xe máy biển kiểm soát 36F3-8461 chở theo sau anh Thiều Văn H, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã Đ, huyện S, Tỉnh H; do nghi vấn C có hành vi vi phạm pháp luật, nên tổ công tác đã kiểm tra và phát hiện trong quần phía sau bên trái của Trần Văn C đang mặc có 02 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ số vật chứng trên và chiếc xe máy biển kiểm soát 36F3-8461.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tĩnh Gia tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn C tại số nhà A, ngõ B, đường C, Phường: Đ, Thành phố H, thu giữ: 01 (một) túi ni lông màu trắng có viền màu xanh bên trong có các hạt nhỏ dạng tinh thể bám dính; 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp đục thủng hai lỗ, một lỗ cắm ống hút.

Tại Kết luận giám định số:162/MT-PC09 ngày 12/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng (thu giữ khi bắt quả tang) là ma túy, có khối lượng 2,423g (Hai phẩy bốn hai ba gam) loại: Methamphetamine

- Các hạt nhỏ tinh thể màu trắng bám dính trong túi ni lông (thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn C) là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.

- Mẫu vật còn lại sau giám định là 2,288g (Hai phẩy hai tám tám gam) ma túy, loại Methamphetamine

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn C khai nhận số ma túy bị tổ công tác Công an huyện Tĩnh Gia thu giữ khi bị bắt quả tang là C mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Cầu Bố thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy cất giấu trong người và có nhu cầu đem vào khu vực huyện Tĩnh Gia để sử dụng trái phép nhưng không có phương tiện nên C đã gọi điện mượn xe của Thiều Văn N, sinh năm 1994, trú tại thôn Th, xã Đ, huyện S, tỉnh H. N đồng ý cho mượn xe và bảo Thiều Văn H, sinh năm 1992 (là em họ của N, trú cùng thôn) đem chiếc xe máy BKS: 36F3-8461 xuống chỗ ở của C cho C mượn. Khi mượn được xe thì C rủ H đi chơi với C thì H đồng ý ngồi sau để C đưa đi, khi cả hai đến khu vực thôn Đào Duy Từ, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia dừng xe đứng đợi bạn thì bị Công an huyện Tĩnh Gia kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Thiều Văn N và Thiều Văn H là người cho C mượn xe và H là người đi cùng C từ khi giao xe đến khi bị bắt. Tuy nhiên, N và H không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của C nên không có căn cứ để xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tĩnh Gia đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ điều tra nhưng chưa xác minh được đối tượng bán ma túy cho Trần Văn C. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh; khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

- Ngày 10/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tĩnh Gia trả lại chủ sở hữu là ông Thiều Văn Đ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Dream II có BKS: 36F3-8461 màu nâu đã qua sử dụng.

- Đối với tang vật ma túy có khối lượng 2,288g (Hai phẩy hai tám tám gam) loại: Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 vỏ bao ni lông màu trắng có viền màu xanh được niêm phong bởi phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 chai nhựa đục thủng hai lỗ trên nắp, có một lỗ cắm ống hút. Hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 34/CTr-VKS-HS ngày 15/02/2019 của VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015

*Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Văn C.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Trần Văn C là từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (09/12/2018). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên:

+ Cơ quan CSĐT Công An huyện Tĩnh Gia đã trả lại cho ông Thiều Văn Đ một xe máy nhãn hiệu Honda loại Dream II có BKS: 36F3-8461 màu nâu. Ông Đảng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị HĐXX không xem xét.

+Tịch thu tiêu hủy 2,288g (Hai phẩy hai tám tám gam) loại: Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 vỏ bao ni lông màu trắng có viền màu xanh được niêm phong bởi phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 chai nhựa đục thủng hai lỗ trên nắp, có một lỗ cắm ống hút. Hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo quy định của pháp luật

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, là đối tượng nghiện ma túy nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an huyện Tĩnh Gia, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Trần Văn C khai nhận: Khoảng14 giờ 20 phút ngày 09/12/2018, tại khu vực thôn Đào Duy Từ, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, Khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,423g (Hai phẩy bốn hai ba gam) ma túy, loại: Methamphetamine; nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công An huyện Tĩnh Gia phát hiện và bắt quả tang.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đe dọa sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, cũng như ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma túy là hiểm họa của cộng đồng và còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy cần được xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Trần Văn C là đối tượng nghiện ma túy và là người có nhân thân xấu, bị cáo đã có 3 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để cải tạo, sửa chữa mình để trở thành người công dân tốt. Chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, cố tình không chịu rèn luyện, cải sửa mình. Nay bị cáo lại có hành vi “Tàng trữ ma túy để sử dụng”. Do đó lần này nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội với mức án nghiêm mới đủ để cải và giáo dục bị cáo cũng như phòng răn đe và ngừa chung.

Xong khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Dream II có BKS: 36F3-8461 màu nâu là xe của ông Thiều Văn Đảng. Ông Đ giao xe xho con trai là Thiều Văn N xử dụng, N cho C mượn nhưng không biết gì về hành vi C Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 10/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tĩnh Gia trả lại chủ sở hữu là ông Thiều Văn Đ. Ông Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.

+Tịch thu tiêu hủy 2,288g (Hai phẩy hai tám tám gam) loại: Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 vỏ bao ni lông màu trắng có viền màu xanh được niêm phong bởi phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 chai nhựa đục thủng hai lỗ trên nắp, có một lỗ cắm ống hút. Hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng.....". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lại là đối tượng nghiện ma túy. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Văn C.

-Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Trần Văn C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 09/12/2018). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 2,288g (Hai phẩy hai tám tám gam) loại: Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định và 01 vỏ bao ni lông màu trắng có viền màu xanh được niêm phong bởi phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 chai nhựa đục thủng hai lỗ trên nắp, có một lỗ cắm ống hút. Hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo quy định của pháp luật.

(Theo phiếu nhập kho số NK2019/44 ngày 20 tháng 03 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia).

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi liên quan tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ