vanban.org

Bản án 32/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 09/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21 tháng 02 năm 2019.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 5 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21 tháng 02 năm 2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--- ** ---
Bản án số:32 /2019/HS-ST

Ngày 09/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Quyên.

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phƣớc.

Bà Lê Thị Thu Hƣờng.

Thƣ ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

* Nguyễn Thị Hồng L– Sinh năm 1983 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K15/39 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng B(c) và bà Lê Thị T(c) ; Gia đình bị cáo có 05 người con, bị cáo là con thứ 3. Có chồng: Hồ Hữu Lvà 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 21 tháng 02 năm 2019, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Th, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 18B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/02/2019, Nguyễn Th (sinh năm 1992, trú tổ 18B, Hòa Phát, Cẩm Lệ) liên lạc đến số điện thoại 0905.667.321 hỏi mua của Nguyễn Thị Hồng L200.000đ ma túy đá và hẹn giao dịch tại trước phòng trọ của L tại K38/H52.01 Nguyễn Nhàn thuộc tổ 25, Hòa Thọ Đông, Cẩm Lệ, Đà Nẵng. Trong lúc L và Th đang giao dịch mua bán trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên người Nguyễn Th 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu HTĐ.01; thu giữ của L số tiền 600.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, sim số 0905.667.321. Tiến hành kiểm tra tại phòng trọ của L thu giữ: 01 hộp kim loại có 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu HTĐ.02; 01 bao lì xì bên trong có chứa 05 gói nylon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu HTĐ.03; 02 gói nylon màu trắng bên trong đều chứa tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu HTĐ.04; 01 gói nylon bên trong có 44 bao nylon, niêm phong ký hiệu HTĐ.05; 01 bình nhựa và 01 nỏ thủy tinh, niêm phong ký hiệu HTĐ.06; Số tiền 550.000đ.

Tại bản kết luận giám định số 52/GĐ-MT ngày 01/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong các mẫu HTĐ.01, HTĐ.02, HTĐ.03 và HTĐ.04 gửi đi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng của từng mẫu lần lượt là 0,009 gam; 0,254 gam; 1,346 gam và 0,154 gam. Hoàn trả lại: 0,087 gam mẫu HTĐ.02; 1,106 gam mẫu HTĐ.03 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

Trước đó, cách ngày bắt quả tang khoảng 10 ngày, L còn bán cho Nguyễn Th thêm 01 lần với giá 300.000đ tại khu vực gần phòng trọ của L. Lần này, Th chỉ đưa cho L 160.000đ và nợ lại 140.000đ.

Đối với người đàn ông tên Anh đã bán ma túy cho L, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tách ra xử lý sau là có cơ sở.

Đối với Th đã có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tuy nhiên chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tiến hành xét nghiệm Th dương tính với ma túy nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Th là có cơ sở.

Tiến hành xét nghiệm L dương tính với ma túy nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với L là có cơ sở.

Đối với 0,087 gam mẫu HTĐ.02; 1,106 gam mẫu HTĐ.03 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, sim số 0905.667.321 là điện thoại L dùng để liên lạc mua bán ma túy nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 gói nylon chứa 44 bao nylon; 01 bình nhựa và 01 nỏ thủy tinh, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.150.000đ thu giữ của L trong đó có 200.000đ là tiền L bán ma túy cho Th nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền 950.000đ còn lại do không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho L nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Đề nghị truy thu của L số tiền 160.000đ L đã bán cho Th.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSCL ngày 20 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 để xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L nói lời nói sau cùng: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đó được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lđã khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 21/02/2019, tại trước số nhà K38/H52.01 Nguyễn Nhàn thuộc tổ 25, phường Hòa Thọ Đông, Cẩm Lệ, Đà Nẵng, Nguyễn Thị Hồng Lđã có hành vi bán trái phép 0,009 gam ma túy loại methamphetamine cho Nguyễn Th thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ phát hiện bắt quả tang đồng thời thu giữ của L tổng cộng 1,763 gam ma túy loại Methamphetamine, số ma túy này L tàng trữ nhằm mục đích mua bán trái phép cho người khác.

Ngoài ra, trước đó L còn bán trái phép chất ma túy cho Th thêm 01 lần với giá 300.000đ.

Ngoài ra, trước đó L còn bán trái phép chất ma túy cho Th thêm 01 lần với giá 300.000đ.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.

Xét tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rất nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ, là người nghiện ma túy nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng đạo đức mà muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy , xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo trực tiếp mua ma túy về phân nhỏ rồi bán cho các con nghiện chứng tỏ bị cáo rất liều lĩnh và coi thường pháp luật, bị cáo phạm tội lần này thuộc trương hợp phạm rroij nhiều lần la tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó HĐXX cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng vơi tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo, cần cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chồng bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Bình Điền, các con của bị cáo còn nhỏ không có ai chăm sóc nên cần áp dụng khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ cho bị bị cáo một phần hình phạt trong khi quyết định hình phạt.

Đối với người đàn ông tên Anh đã bán ma túy cho L, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tách ra xử lý sau là có cơ sở.

Đối với Th đã có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tuy nhiên chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tiến hành xét nghiệm Th dương tính với ma túy nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Th là có cơ sở.

Tiến hành xét nghiệm L dương tính với ma túy nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với L là có cơ sở.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,087 gam mẫu HTĐ.02; 1,106 gam mẫu HHTĐ.03 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu. HĐXX xét thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, sim số 0905.667.321 là điện thoại của bị cáo L. HĐXX xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lđã dùng chiếc điện thoại di động này vào việc liên lạc, mua bán trái phép chất ma túy nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 gói nylon chứa 44 bao ny lon; 01 bình nhựa và 01 nỏ thủy tinh của bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, bị cáo L đã dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. HĐXX xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 5 năm 2019.

Đối với số tiền 1.150.000đ thu giữ của L trong đó có 200.000đ là tiền L bán ma túy cho Th xét thấy đây là tiền thu lợi bất chính bị cáo L có được từ việc bán ma túy cho Nguyễn Th nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Số tiền 950.000đ còn lại do không liên quan đến vụ án cần trả lại cho L nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Truy thu số tiền 160.000đ bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lcó được từ việc bán ma túy cho Nguyễn Th.

Số tiền 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng y) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/5/2019 tại Kho bạc Nhà nước quận Cẩm Lệ của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lphải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21 tháng 02 năm 2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy đối với 0,087 gam mẫu HTĐ.02; 1,106 gam mẫu HTĐ.03 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu.

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, sim 0905.667.321

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tuyên tịch thu và tiêu hủy đối với 01 gói nylon chứa 44 bao nylon; 01 bình nhụa và 01 nỏ thủy tinh.

Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 5 năm 2019.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lcó được từ việc bán ma túy cho Nguyễn Th.

Truy thu số tiền 160.000đ bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lcó được từ việc bán ma túy cho Nguyễn Th.

Số tiền còn lại 950.000đ do không liên quan đến vụ án cần trả lại cho L nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Số tiền 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng y) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/5/2019 tại Kho bạc Nhà nước quận Cẩm Lệ của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.

3. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Hồng Lphải chịu là 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Cẩm Lệ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Công an quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Trại tạm giam Hòa Sơn;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Ngọc Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Cẩm Lệ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Công an quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Trại tạm giam Hòa Sơn;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Ngọc Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Cẩm Lệ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Công an quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Trại tạm giam Hòa Sơn;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Ngọc Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Cẩm Lệ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Công an quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Trại tạm giam Hòa Sơn;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Ngọc Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ