- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Quang Kh, phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường…"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án p…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bả án số:32/2019/HS-ST Ngày 27-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Tinh; Bà Lê Thị Bảy.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa:
Ông Lê Anh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ tên: Hoàng Quang Kh, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1964 tại xã Chiềng Xôm, thành phố S La, tỉnh S La.
Nơi cư trú: Tổ 3, Tiều Khu 11, Thị trấn Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Kh1 (đã chết), và bà Nguyễn Thị M (đã chết); Gia đình có hai người con, bị cáo là đầu trong gia đình. Có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con; Tiền sự, tiền án: không;
Bị cáo bị cáp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Đại diện hợp pháp của bị hại:
Anh Nguyễn Xuân Ph - Sinh năm 1962 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ 3, Tiểu Khu 11, Thị trấn Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Hoàng Ngọc S - Sinh năm 1992 (có mặt)
Trú tại: Tổ 3, Tiểu Khu 11, Thị trấn Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1965 (có mặt)
Trú tại: Tổ 3, Tiểu Khu 11, Thị trấn Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La.
- Anh Lê Hữu Đ - Sinh năm 1972 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn Xuân Chính, xã Yên Lễ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Quang Kh có giấy phép lái xe ô tô hạng A1, B2 số: 140086001309 do Sở giao thông vận tải tỉnh S La cấp ngày 11/11/2014 có giá trị đến ngày 11/11/2024, được ®iÒu khiÓn xe « t« chở người đến 9 chỗ ngồi; ô tô tải, máy kéo kéo rơmooc có trọng tải dưới 3500 kg và xe hạng B1.
Vào tối ngày 26/7/2019, Hoàng Quang Kh điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 26A-072.01 chở theo người thân để đi tỉnh Nghệ An. Khoảng 20 giờ cùng ngày thì bắt đầu xuất phát từ thị trấn Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La, trên xe chở theo ông Nguyễn Xuân M1 sinh năm 1937, bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1935 (là bố mẹ vợ của Kh), anh Nguyễn Xuân Ph, sinh năm 1962 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1965 (là anh chị vợ của Kh) đều ở Mai S, S La. Trên xe ông M1 ngồi ở hàng ghế trước bên phụ, bà X và chị H ngồi ở hàng ghế thứ hai, anh Ph ngồi ở hàng ghế thứ ba còn Kh là người điều khiển xe ô tô. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày xe đi đến địa phận huyện Mộc Châu - S La thì Kh dừng xe nghỉ khoảng 20 phút rồi tiếp tục điều khiển xe đi tiếp. Xe lưu thông đi trên đường Hồ Chí Minh theo hướng Hà Nội đi Nghệ An. Đến khoảng hơn 1 giờ sáng ngày 27/7/2019 khi đang điều khiển xe đi đến đoạn đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa thì Kh dừng xe nghỉ khoảng 20 phút, sau đó bắt đầu đi tiếp. Quá trình điều khiển xe ô tô liên tục suốt nhiều giờ đã làm cho Kh thấy buồn ngủ nên đã dừng lại để ngủ hai lần như trên, sau khi nghỉ ngơi lại tiếp tục đi tiếp. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 27/7/2019 khi đang điều khiển xe đi đến KM 601+306 đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Xuân Chính, xã Yên Lễ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa thì anh Kh buồn ngủ và ngủ gật trong khi đang lái xe nên không làm chủ được tốc độ, phương tiện, đã lấn sang phần đường ngược chiều, đâm đầu vào lan can cầu bên trái trên đường Hồ Chí Minh theo hướng lưu thông từ Thanh Hóa đi Ngệ An. Nghe tiếng đâm lớn thì Kh giật mình tỉnh dậy và thấy mọi người trong xe kêu la đau đớn thì Kh xuống xe kiểm tra thấy ông M1 và bà X bị thương nặng nên đưa ra khỏi xe và nhờ người dân ở gần nơi sảy ra tai nạn đưa những người bị thương đi cấp cứu.
Hậu quả: Bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Xuân M1 bị chết khi đưa đi cấp cứu, anh Nguyễn Xuân Ph và chị Nguyễn Thị H bị thương nhẹ. Xe ô tô bị hư hỏng nặng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Như Xuân đã quyết định trưng cầu giám định số 877, 878 ngày 27/7/2019 đối với nguyên nhân chết của ông Nguyễn Xuân M1 và bà Nguyễn Thị X. Tại kết luận giám định số 1839, 1840 ngày 02/8/2019 cảu Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Xuân M1 là “chết do đa chấn thương”, của bà Nguyễn Thị X là “vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, chảy máu lan tỏa màng mềm”.
Quá trình điều tra, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, ghi lời khai và hỏi cung bị cáo, lấy lời khai của những người liên quan xác định chiều hướng chuyển động của phương tiện xe ô tô 26A-072.01 do Hoàng Quang Kh điều khiển là hướng đi từ tỉnh Thanh Hóa đi Nghệ An.
Quá trình điều tra xác định nguyên nhân dẫn đến tai nạn khiến ông Nguyễn Xuân M1 và bà Nguyễn Thị X chết là do Hoàng Quang Kh điều khiển xe ô tô BKS: 26S-072.01 liên tục nhiều tiếng đồng hồ dẫn đến mệt mỏi, buồn ngủ, ngủ trong khi điều khiển xe ô tô dẫn đến tai nạn, không có va chạm với phương tiện tham gia giao thông nào trên đường. Hoàng Quang Kh khai báo thời điểm sảy ra tai nạn, Kh điều khiển xe với tốc độ khoảng 70-80 km/h. Kh điều khiển xe ô tô trong tình trạng sức khỏe bình thường, không sử dụng rượu bia hay chất kích thích gì.
Đối với chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Xuân Ph do thương tích nhẹ, không điều trị tại cơ sở y tế nào; bản thân anh Ph và chị H là anh em người nhà với bị cáo nên anh Ph, chị H đã có đơn từ chối giám định thương tích. Cơ quan điều tra đã xác minh việc từ chối giám định thương tích của chị H và anh Ph là đúng thực tế khách quan và không bị ai đe dọa ép buộc gì.
Về dân sự: Đối với xe ô tô biển kiểm soát 26A- 072.01 do bị cáo Hoàng Quang Kh điều khiển là xe của con trai bị cáo sở hữu tên Hoàng Ngọc S ở cùng địa chỉ. Xe có nguồn gốc giấy tờ hợp pháp, đầy đủ rõ ràng. Ngày 05/8/2019, Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá tài sản về những hư hỏng thiệt hại đối với xe ô tô mà bị cáo điều khiển gây ra. Tại kết luận kết quả định giá tài sản bị thiệt hại của Hội đồng định giá tài sản huyện Như Xuân số 20/KL-ĐGTS ngày 07/8/2019 kết luận: Giá trị tài sản bị hư hỏng thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra đối với phương tiện xe ô tô BKS 26A-072.01 tính đến thời điểm hiện tại là 7.341.000đ. Anh S không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bị cáo vì lý do là cùng một gia đình.
Đại diện gia đình bị hại không đề nghị bồi thường dân sự.
Về vật chứng của vụ án:
Ngày 05/9/2019 chủ phương tiện là ang Hoàng Ngọc S có đơn xin phương tiện để sửa chữa phục vụ cho công việc và đi lại, xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu không ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, ngày 06/9/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân ra quyết định xử lý vật chứng đối với xe ô tô BKS 26A-702.01 bằng hình thức trả lại xe và giấy tờ xe cho chủ sở hữu.
Giấy phép lái xe số số: 140086001309 của Hoàng Quang Kh hiện đang bị tạm giữ, bảo quản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Bản trạng số 27/CT-VKSNX ngày 16/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân đã truy tố bị cáo Hoàng Quang Kh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và xác định sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy, đề nghị HĐXX căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Hoàng Quang Kh 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm..
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số: 140086001309 cho Hoàng Quang Kh.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Quang Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo và đề nghị xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Hoàng Quang Kh tại phiên tòa khai nhận phù hợp với lời khai tại Cơ qua điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ ngày 27/7/2019, Hoàng Quang Kh điều khiển xe ô tô, biển số đăng ký 26A – 072.01 lưu thông theo hướng Hà Nội đi Nghệ An. Đến KM 601+ 306 đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Xuân Chính, Yên Lễ, Như Xuân đã không làm chủ được tốc độ, không giảm tốc độ khi gặp chướng ngại vật, không đi bên phải theo chiều đi của mình, đã gây tai nạn, đâm vào đầu của lan can cầu Xuân Chính (bên trái theo hướng lưu thông Hà Nội đi Nghệ An) làm chết ông Nguyễn Xuân M1 và bà Nguyễn Thị X đang ngồi trên xe.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 19, 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 5 thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của BLHS. Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Hành vi của bị cáo Hoàng Quang Kh là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả rất nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ nên cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật, cũng như để phòng ngừa chung.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo phạm tội do vô ý, bị hại trong vụ án là người thân thích của bị cáo. Xét bị cáo có nơi cư trú ổn định, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và giao bị cáo cho chính quyền địa pH nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã tự thỏa thuận không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, xÐt thÊy kh«ng ¶nh hưởng ®Õn viÖc gi¶i quyÕt vô ¸n nên ngày 06/9/2019, C¬ quan c¶nh s¸t ®iÒu tra C«ng an huyÖn Như Xuân đã trả l¹i 01 xe ô tô biển số đăng ký: 26A – 072.01 và giấy tờ cho chủ xe là anh Hoàng Ngọc S là phù hợp.
Đối với Giấy phép lái xe số số: 140086001309 của Hoàng Quang Kh. Do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quang Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Quang Kh 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Quang Kh cho UBND thị trấn Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số số: 140086001309 mang tên Hoàng Quang Kh, sinh năm 1964, nơi cư trú: xã Tiểu khu 11, TT Hát Lót, huyện Mai S, tỉnh S La.
*Về án phí: Bị cáo Hoàng Quang Kh phải nộp 200.000đ án phí HSST.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và ngĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Như Xuân;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo; Đại diện hợp pháp của
bị hại; Người có QLVNGLQ;
- Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
- Chi cục THADS huyện Như Xuân;
(Đã ký)
- Công an huyện Như Xuân;
- Lưu hồ sơ.
Cao Văn Sang
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Sang
| Nơi nhận: - VKSND huyện Như Xuân; - Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại; Người có QLVNGLQ; - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Như Xuân; - Công an huyện Như Xuân; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Sang |