vanban.org

Bản án 32/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 10/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn K.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HSST, ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
_______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HS-PT
Ngày: 10-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Minh Tự

Ông Ngô Đê

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm An Bình, Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh, Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 10 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2019/HSPT ngày 17/5/2019 đối với bị cáo Trần Văn K. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn K đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HSST, ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn K, sinh năm 1962; tên gọi khác: Chiến; tại: tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M, sinh năm 1920 (chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1924 (chết); có vợ là bà Trầm Thị Ngọc P, sinh năm 1964, con: 02 người lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/9/2018 tại ngoại cho đến nay (bị cáo có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Văn K có giấy phép lái xe hạng D còn giá trị sử dụng. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 22/7/2018, bị cáo K điều khiển xe ô tô khách 16 chỗ ngồi biển số 84B-008.83 (xe của anh Trần Phước L, sinh năm 1988, cư trú ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh – anh L là con ruột của bị cáo; anh L nhờ bị cáo điều khiển xe chở khách) chở khách từ huyện T để đến Thành phố H. Bị cáo K điều khiển xe chở khách đi trên tuyến Quốc lộ 54 và đến đoạn đường thuộc khóm 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, lúc này khoảng 20 giờ 07 phút cùng ngày. Tại đoạn đường này, bị cáo K phát hiện cách khoảng 50 mét phía trước ở phần đường bên phải có một xe ô tô con màu đen và hai xe mô tô hai bánh đang được người điều khiển điều khiển lưu thông theo hướng cùng chiều với hướng đi của xe bị cáo. Lúc này, Kiệt điều khiển xe ô tô khách chạy sang phần đường bên trái theo hướng đi để vượt qua các xe trên. Trong khi đang vượt thì có xe mô tô hai bánh biển số 81F9-4069 do Nguyễn Văn D (sinh năm 2000, cư trú ấp K, xã S, huyện C – xe của ông Nguyễn Văn H là cha của D) điều khiển chở người ngồi sau là Nguyễn Văn T (sinh năm 1999, cư trú cùng ấp) đi theo hướng ngược chiều với xe của bị cáo K (xe của D điều khiển đi đúng phần đường quy định). Hậu quả, xe ô tô khách của bị cáo K điều khiển đã va chạm vào xe mô tô của anh D điều khiển, dẫn đến xe mô tô, anh D, anh T đều ngã cày trên bề mặt lộ bê tông nhựa. Anh D và anh T bị chấn thương nặng, bị cáo K cùng với một người dân chở anh D đến bệnh viện đa khoa Trà Vinh cấp cứu; còn anh T thì bị cáo K cũng nhờ người dân chở đến bệnh viện đa khoa Trà Vinh cấp cứu. Đến 01 giờ 00 phút ngày 23/7/2018, anh D tử vong tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh. Riêng anh T được chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy tại Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị, đến ngày 26/12/2018 thì anh T được xuất viện về nhà. Đối với bị cáo Trần Văn K và các hành khách ngồi trên xe ô tô biển số 84B-008.83 không bị thương tích.

Tại Kết luận giám định pháp y số 194/KLGĐ(PY) ngày 25/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh xác định nguyên nhân chính dẫn đến D tử vong là do đa chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 151/TgT ngày 25/12/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Trà Vinh (bút lục số 40-41) xác định thương tích đối với Nguyễn Văn T như sau: Tổn thương não gây di chứng kiểu thực vật (100%). Gãy 1/3 trên hai xương cẳng chân trái, gãy ngón V tay phải, viêm phổi. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn T là 100%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HSST, ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, bị cáo Trần Văn K kháng cáo xin được hưởng án treo.

- 2 -

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm thể hiện là đúng và giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.

- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở kết luận, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; mức hình phạt 01 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn K, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Khi bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tham gia giao thông nhưng không chấp hành nghiêm quy tắc giao thông đường bộ. Trong khi bị cáo cho xe vượt xe cùng chiều và phía trước có xe chạy ngược chiều đến nhưng vẫn cho xe vượt lấn sang làn đường bên trái đây là nguyên nhân chính gây ra tại nạn dẫn đến hậu quả 01 người tử vong và 01 người sống đời sống thực vật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét toàn diện, khách quan các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, hình phạt đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương trong việc kiên quyết phòng chống loại tội phạm này. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo của bị cáo.

Đề nghị của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí: Bị cáo Trần Văn K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

- 3 -

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn K.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HSST, ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

- Án phí: Bị cáo Trần Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ